Cả Mõ

camoz77.blogspot.com/

26 tháng 5 2012

Bình luận: GIẢM THIỂU THIÊN TAI TRƯỚC HẾT CẦN CÓ THÁI ĐỘ ỨNG XỬ THÂN THIỆN VỚI MÔI TRƯỜNG (Bài viết cho ngày Môi trường thế giới-5/6)



          Gần đây chúng ta thường được nghe nhiều đến tần suất xuất hiện những thảm họa thiên tai như lũ ống, lũ quét, sạt lở núi, sạt lở bờ sông, sụt đất, nước biển dâng, động đất, sóng thần, lốc xoáy, mưa đá…Sự gia tăng tần suất của các loại hình thảm họa đó không chỉ là hiện tượng tự nhiên vốn có mà còn do một nguyên nhân quan trọng là hệ lụy từ hành vi khai thác vô tổ chức và tác động trái quy luật của con người vào môi trường tự nhiên.
          Nhiều năm trước đây Thế giới đã ý thức rất rõ về vấn đề này, cho nên bản dự thảo Nghị định thư Kioto đã được các bên tham gia kí kết vào ngày 11 tháng 12 năm 1997 và chính thức có hiệu lực vào ngày 16 tháng 2 năm 2005. Đến tháng 11/2007 đã có tới 175 nước kí kết Nghị định thư này, với mục đích tham gia Chương trình khung về biến đổi khí hậu mang tầm quốc tế của Liên hiệp quốc. Mục tiêu của Chương trình nhằm, cắt giảm lượng khí thải gây hiệu ứng nhà kính. Song thực tế, do lợi ích cục bộ cho nên cũng còn không ít những tranh cãi.
          Nhìn về phạm vi quốc gia và địa phương, vấn đề lẽ ra sẽ không phức tạp đến như vậy, vì chúng ta đã có cả một hệ thống pháp luật đồng bộ để điều chỉnh cho mọi lĩnh vực hoạt động của xã hội, trong đó có lĩnh vực về tài nguyên và môi trường. Song, thực trạng  ở đây đó vẫn tồn tại những vi phạm đến mức đáng báo động. Ngay trên địa bàn tỉnh Lào Cai và huyện Bảo Thắng, hoạt động của một số nhà máy không đủ tiêu chuẩn về xử lý ô nhiễm môi trường; rồi tình trạng phá rừng làm rẫy, tình trạng ô nhiễm rác thải và khai thác tài nguyên khoáng sản trái phép có nơi, có lúc đã gây nên bức xúc.
          Những vấn đề nêu trên thực tế không mới. Được biết, chính quyền và các ngành chức năng cũng đã vào cuộc, nhưng cá biệt có nơi, có lúc vẫn chưa đạt được giải pháp khả dĩ để dứt điểm - nếu không nói là còn biểu hiện “Đánh trống bỏ dùi”. Sự vào cuộc nửa vời đương nhiên là hiệu quả sẽ không cao, đáng lo ngại hơn là đã tạo nên tình trạng “nhờn thuốc” trước hiệu lực của pháp luật. Đơn cử một ví dụ về hoạt động khai thác khoáng sản không phép đang tiếp tục gia tăng, nhất là tình trạng đào đãi vàng sa khoáng trên Sông Hồng và một số khe ngòi, cứ mỗi lần chính quyền và các ngành chức năng nơi này làm mạnh thì những người khai thác lậu lại dạt sang nơi kia. Không biết các đối tượng khai thác khoáng sản trái phép đã bị xử phạt đến mức nào, nhưng các phương tiện hành nghề của họ thì vẫn “trơ gan cùng tuế nguyệt”. Đó chính là điều kiện để họ chỉ cần di dời địa điểm là lại có thể vô tư hoạt động. Theo phản ánh của nhân dân, một số tầu khai thác vàng sa khoáng trên Sông Hồng đã hiển hiện công khai trong suốt thời gian qua từ Văn Yên-Yên Bái ngược lên địa phận tỉnh Lào Cai - nhất là từ khu vực Bảo Hà, Bảo Yên  lên đến Thái Niên của Bảo Thắng. Các tầu này đều có trang bị hiện đại như máy phát điện, máy xúc, máng đãi máy bằng hệ thống guồng …công suất mỗi giờ có thể đào đãi và xả thải ra tới hàng chục mét khối sỏi. Vì vậy những con tầu này đi đến đâu thì tạo nên những gò, đống cát - sỏi ở ngay giữa lòng sông. Có chỗ thậm chí còn lấp kín hàng chục mét, làm cản trở và biến đổi dòng chảy của sông, ngòi. Với con mắt của những người dân bình thường cũng hiểu được, đó chính là hiểm họa gây xói lở bờ sông không theo quy luật; là tác động trực tiếp đến nơi ở và diện tích canh tác của cư dân ven bờ và đã khoét sâu vào chân một số cây cầu lớn. Việc khai thác vàng trên sông ngòi không chỉ gây nên biến đổi dòng chảy, sạt lở bất thường mà đáng ngại hơn, đó là sự ô nhiễm dòng sông do các chất độc hại nguy hiểm như thủy ngân, xianua được thải ra trong quá trình hoạt động.


         
                              Cơ quan chức năng lập biên bản, đình chỉ khai thác KS trái phép

          Những con tàu này chỉ bị các địa phương xua đuổi chứ chưa thấy bị xử lý với một chế tài hữu hiệu nào để chấm dứt được hoạt động của nó. Với cách “Phạt cho tồn tại” hoặc chỉ xua đuổi ra khỏi địa bàn thì chẳng khác gì trò “bắt cóc bỏ đĩa”. Vừa qua nhóm phóng viên thời sự phát thanh-truyền hình có ghi lại hình ảnh một con tàu trên Sông Hồng, thuộc địa phận xã Sơn Hải - sau khi nó đã bị chính quyền địa phương đình chỉ hoạt động và yêu cầu trục xuất. Nhưng chỉ ít ngày sau đã lại thấy nó lừng lững xuất hiện và ngang nhiên hoạt động ngay phía trên nơi bị trục xuất không xa!.
          Lâu nay, như đã thành mô - tip của các báo cáo, nếu một vấn đề gì đó còn tồn tại hạn chế thì sẽ được đổ lỗi đầu tiên là do công tác tuyên truyền, giáo dục chưa tốt, chưa tích cực. Nhưng với các đối tượng khai thác tài nguyên khoáng sản trái phép, gây hậu quả cho môi trường thì hầu như họ đều hiểu biết rất rõ về hành vi của mình.  Một chủ tầu làm vàng (Quê ngoại thành Hà Nội) cho biết, anh ta phải đầu tư tới hàng tỉ đồng để đóng một con tầu làm vàng trên sông, nhưng do ở “dưới đó” chính quyền làm riết quá nên phải dạt lên “đây” “làm ăn”. Phải chăng, trước lợi nhuận từ việc khai thác vàng trái phép, thì dù biết rõ quy định của pháp luật họ vẫn tìm cách lách kẽ hở của công tác quản lý để trục lợi, bất chấp quy định cấm của Luật pháp hiện hành.
Cụm từ “thiên tai” xưa nay thường được hiểu là tai họa do thiên nhiên mạng lại, nhưng ngày nay sự biến đổi khí hậu và biến đổi kết cấu hạ tầng địa chất, dẫn đến gia tăng tần suất thảm họa thiên tai đã được các nhà khoa học khẳng định, phần lớn là do sự tác động trái quy luật của con người trong ứng xử với thiên nhiên.
Vì vậy, để giảm thiểu thảm họa thiên tai, vấn đề không chỉ ở các biện pháp phòng chống cục bộ, mà đặc biệt quan trọng là cần có một thái độ tự giác của mỗi con người về bảo vệ môi trường và hành vi ứng xử với thiên nhiên.

                                                                                      Mạnh Nguyên


20 tháng 5 2012

BẢO THẮNG VẪN ÂM VANG KHÚC HÁT TỰ HÀO



 Ngược dòng thời gian để trở lại với hơn 60 năm về trước (ngày 15/10/1948), Bảo Thắng đang sôi sục trong khí thế đấu tranh cách mạng -  Đảng bộ huyện ra đời đánh dấu một bước ngoặt quan trọng của sự nghiệp cách mạng địa phương.
Dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ, nhân dân các dân tộc huyện Bảo Thắng đã lập nên nhiều chiến công vang dội, khởi đầu bằng tiếng trống võ trang Cam Đường (đêm ngày 13/12/1948), nhân dân trong huyện đã đứng lên diệt ác, trừ gian, giành lại chính quyền. Tiếp đó phong trào đấu tranh lan rộng khắp trong toàn huyện...hình thành khu căn cứ cách mạng rộng trên 300 km2 trải dài từ Gia Phú, Xuân Giao, Sơn Hải, Thái Niên, Phố Lu. Huyện Bảo Thắng trở thành địa bàn trọng yếu, khu căn cứ cách mạng quan trọng của cả tỉnh Lào Cai, với ý chí quyết tâm giành độc lập cho quê hương, quân và dân Bảo Thắng đã chiến đấu giành thắng lợi vẻ vang trong chiến dịch Lê Hồng Phong màn 1,cùng với quân chủ lực tiến công giải phóng Phố Lu vào ngày 13/2/1950, tạo thế và lực làm nên chiến thắng giải phóng hoàn toàn tỉnh Lào Cai. Góp sức cùng với cả nước, trong chiến dịch Đông - Xuân 1953-1954, quân và dân Bảo Thắng đã huy động hàng nghìn lượt dân công hoả tuyến, hàng trăm tấn lương thực, thực phẩm phục vụ chiến dịch Điện Biên Phủ, góp phần làm nên chiến thắng Điện Biên lịch sử, giải phóng hoàn toàn Miền Bắc.
Trong những năm kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược, Đảng bộ huyện tiếp tục lãnh đạo nhân dân các dân tộc tập trung đẩy mạnh sản xuất, xây dựng cơ sở vật chất cho CNXH, góp phần chi viện sức người, sức của, cùng cả nước làm nên chiến thắng vang dội mùa xuân năm 1975 - giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Trải qua các cuộc chiến tranh, biết bao đảng viên ưu tú và những người dân bình dị của quê hương Bảo Thắng đã ngã xuống cho quê hương, đất nước Việt Nam được tươi đẹp như ngày hôm nay. Sự hy sinh anh dũng của các đồng chí: Hoàng Sào, Kim Hải, Khuất Duy Chiến cùng không ít cán bộ, đảng viên và nhân dân các dân tộc trong huyện đã nêu tấm gương sáng về sự tận trung với nước, tận hiếu với dân. Để lại gương sáng cho các thế hệ hôm nay và mãi mãi mai sau.
          Ngày 01/10/1991 tỉnh Lào Cai được tái lập, Bảo Thắng lại được tỉnh chọn là nơi tập kết. Nhiều cơ quan của Tỉnh uỷ, HĐND, UBND và các sở, ban, ngành được đặt tại huyện lỵ Bảo Thắng, niềm vui, tự hào, trách nhiệm lớn lao được trao cho cán bộ, đảng viên và nhân dân các dân tộc trong huyện. Mặc dù còn có những khó khăn nhất định nhưng dưới sự lãnh đạo của BCH Đảng bộ huyện, trong những ngày Tỉnh tập kết tại huyện, ngoài việc hỗ trợ của các bộ, ngành Trung uơng, Bảo Thắng đã có nhiều sáng tạo trong việc đẩy mạnh phát triển kinh tế, cung cấp các mặt hàng thiết yếu phục vụ cho cán bộ viên chức, bảo đảm trật tự an toàn xã hội, an ninh quốc phòng…xứng đáng là hậu phương vững chắc của tỉnh. Đây chính là điểm nhấn để mỗi hình ảnh, mỗi bước bước tiến mới của Lào Cai hôm nay luôn in đậm trong trái tim của mỗi người dân dân tộc Bảo Thắng.
 Từ 02 chi bộ đầu tiên với hơn ba chục đảng viên, đến nay Đảng bộ huyện đã có 63 tổ chức cơ sở Đảng với trên 3.350 đảng viên. Qua 26 kỳ đại hội - mỗi chặng đường cách mạng, Đảng bộ Huyện luôn đề ra được những nghị quyết sát, đúng với tình hình thực tế của địa phương; với nhiều cách làm hay, những bước đi năng động, sáng tạo đã kịp thời đề ra được nhiệm vụ cụ thể cho từng giai đoạn phát triển của địa phương. Nhất là sau hơn hai mươi năm thực hiện sự nghiệp đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo, Đảng bộ và nhân dân Bảo Thắng đã vận dụng sáng tạo các chủ trương, nghị quyết của Đảng để đẩy mạnh phát triển KT-XH, tạo ra bước đột phá trên các lĩnh vực kinh tế trọng yếu, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng sản xuất hàng hóa; phát triển đa dạng các ngành nghề kinh doanh, dịch vụ sản xuất, kết quả đó được minh chứng ở tốc độ tăng trưởng kinh tế năm 2010 của huyện tiếp tục đạt 17,69%, nâng thu nhập bình quân đầu người lên 12,63 triệu đồng/năm; Văn hóa - xã hội có nhiều tiến bộ, đáp ứng nhu cầu, lợi ích nhiều mặt cho các tầng lớp nhân dân; toàn huyện đã có 1.645 hộ thoát nghèo, góp phần giảm tỷ lệ hộ nghèo xuống còn 9,1%.
 Bảo Thắng hôm nay đang đứng trước thời cơ và thuận lợi mới, vừa nằm ở vị trí trung tâm của tỉnh, vừa nằm trên hai trục kinh tế quan trọng - Trục kinh tế nông nghiệp chất lượng cao (Bát Xát - Lào Cai - Bảo Thắng - Bảo Yên) và trục công nghiệp luyện kim màu (Bảo Thắng - Văn Bàn) sẽ thuận lợi về hợp tác phát triển kinh tế - xã hội, giao lưu buôn bán hàng hóa. Khu công nghiệp Tằng Loỏng đi vào hoạt động hiệu quả, các tuyến đường giao thông được sửa chữa, nâng cấp và mở rộng sẽ tạo điều kiện thuận lợi, là động lực thúc đẩy kinh tế - xã hội của huyện chuyển dịch và phát triển mạnh mẽ. Các chương trình, đề án, kế hoạch trọng tâm của BCH Đảng bộ huyện khóa 25 đã và đang phát huy hiệu quả, tạo đà để huyện có những bước phát triển mới trong giai đoạn 2010 - 2015. Nghị quyết Đại hội lần thứ XXVI đã đề ra 26 mục tiêu chủ yếu trên các lĩnh vực và được cụ thể bằng 6 chương trình, 13 đề án trọng tâm hướng về cơ sở, đang tiếp tục phát huy lợi thế và ấp ủ nhiều hứa hẹn mới.
Có thể nói, những kết quả đạt được trên tiền đề vững chắc, tạo động lực mạnh mẽ để Bảo Thắng lôn vang lên “tiếng hát tự hào” tự hào, tiếp tục khơi dậy và phát huy nội lực viết nên những trang sử mới; quyết phấn đấu thực hiện thắng lợi nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ 26 và đại hội đảng các cấp, góp phần quan trọng cho sự nghiêp xây dựng quê hương Lào Cai ngày một đổi mới và phát triển bền vững.

                                          Ngô Hữu Tường
                                   Văn phòng Đoàn ĐBQH và HĐND tỉnh Lào Cai
                                           

19 tháng 5 2012

NÔNG DÂN BẢO THẮNG LAO ĐAO CÙNG CÂY SẮN


          Do được giá, trong mấy năm qua người dân trên địa bàn huyện Bảo Thắng đã tự phát trồng khá nhiều cây sắn. Việc bán sắn củ tươi trong mùa thu hoạch năm 2010-2011 đã giúp cho nhiều hộ nông dân ở các xã Phố Lu, Trì Quang, Xuân Quang, Bản Cầm...có được món tiền kha khá. Vì vậy diện tích trồng sắn của năm 2011 tiếp tục được mở rộng. Song, giá sắn lên xuống thường bấp bênh đến khó lường, cho nên người trồng sắn cũng chấp nhận rủi ro không khác gì đánh bạc. 

Đầu năm 2012, việc thu mua sắn từ các đầu nậu, tư thương có phần chững lại, giá thu mua bình quân tụt xuống tới gần 50% so với cùng kỳ năm ngoái. Nếu như cuối đầu năm 2011 giá mỗi kg sắn tươi bán được từ 1.600 đến 1.800 đồng, thì hiện nay chỉ còn bán được từ 900 đến 1000 đồng.  Vì vậy, nhiều hộ dân đã ngao ngán, bởi sản lượng thì tăng lên mà thực tế thì lại thất thu nặng!.
Vừa qua chúng tôi đã đến với thôn Làng Đào, xã Trì Quang - địa chỉ được coi như một trong những thôn có diện tích trồng sắn cao nhất xã. Tại đây, trước mắt chúng tôi hiển hiện mênh mông là đồi sắn. Mặc dù người dân đã thu hoạch từ cuối năm 2011, nhưng số đồi sắn chưa thu vẫn còn khá lớn. Càng vào sâu thì càng thấy nhiều nương sắn điệp trùng, xen lẫn với những cánh rừng phòng hộ. Phải thừa nhận, giống sắn cao sản đã nhanh chóng được người dân nơi đây chấp nhận, vì chúng cho năng suất vượt trội. Trên thực tế đã có thời gian cây sắn sắn cao sản này đem lại giá trị kinh tế đáng kể, trung bình một Ha đất trồng sắn có thể cho thu nhập đến trên dưới 40 triệu đồng. Năm nay, tuy sắn mất giá, nhưng theo như một người dân cho biết, dù “lấy công làm lãi” vẫn có thể thu được 17 triệu đồng/ 1 ha.
       Trò chuyện cùng anh nông dân Lý Văn Hồng - người đang thu hoạch sắn. Năm vừa qua gia đình Anh trồng được 3 Ha, mỗi Ha bình quân thu được khoảng trên 20 tấn sắn củ tươi. Phần lớn diện tích sắn của gia đình là trồng xen canh, kế vụ sau khi đã thu hoạch gỗ, nhằm tranh thủ sử dụng đất nhàn khi cây gỗ mới trồng chưa khép tán.
      Tuy nhiên, từ nguồn lợi trước mắt, cũng có không ít người bất chấp hậu quả, đầu tư cho trồng sắn bằng mọi giá. Vụ sắn năm 2011, có hộ dân đã trồng tới trên 5 ha, góp phần nâng tổng diện tích sắn của xã Trì Quang lên tới 450 Ha. Được biết, sự gia tăng diện tích cây sắn ở các xã khác của Bảo Thắng cũng tương tự. Đó là lý do để các tư thương, đầu nậu hạ giá thu mua, làm cho niềm hy vọng tràn trề của người trồng sắn gần một năm chăm sóc, bỗng trở nên thất vọng. Hiện tại không ít người dân đã phải đã tạm dừng thu hoạch, hy vọng rồi giá sắn sẽ lại lên!?.
Thu hoạch sắn
Ông Lê Xuân Hùng, bí thư đảng ủy xã Trì Quang cho biết, sắn là lọai cây trồng không được khuyến khích, nhưng do dễ trồng lại được giá nên gần đây diện tích sắn luôn được bà con nông dân tự phát mở rộng. Thậm chí có lúc, có nơi được xem như một loại cây trồng chủ lực để “xóa đói, giảm nghèo”. Về mặt nào đó, ở một vài thời điểm cây sắn đã cho người nông dân nguồn thu nhập đáng kể; có gia đình trồng sắn thu được tới cả trăm triệu đồng - số tiền không nhỏ đối với nhiều hộ nông dân, nhất là đồng bào vùng cao, vùng xa. Điều trăn trở nhất của cấp ủy địa phương là, diện tích trồng sắn phát triển ồ ạt khó kiểm soát. nguồn thu mua đầu ra lại hoàn toàn phụ thuộc tư thương. Vì vậy, làm thế nào để quản lý diện tích trồng sắn theo quy hoạch, tránh việc người dân xâm lấn vào đất rừng phòng hộ và tránh sự khủng hoảng đầu ra, gây thiệt hại cho dân là vấn đề cấp bách hiện nay.

          Nguyên nhân về tình trạng giá sắn bấp bênh, người trồng sắn chưa kịp mừng vì sản lượng thu hoạch tăng thì đã phải lo thua lỗ vì bị ép giá. Điều căn bản là do sự phát triển diện tích sắn hoàn toàn tự phát theo tâm lý số đông, hầu hết sắn thu mua là để gom bán sang bên kia biên giới. Quá trình bán - mua giữa người sản xuất với tư thương, rồi từ các tư thương với nhà máy sản xuất bột ở nước ngoài hoàn toàn diễn ra theo kiểu trao đổi miệng, không có sự ràng buộc về pháp lý. Giá cả vì thế cũng chủ yếu từ phía người mua quyết định, khi khan hàng thì đẩy giá lên, khi nguồn cung dồi dào thì ép giá xuống, bất chấp thiệt hại cho đối tác. Về phía người nông dân, sắn đã trồng và đã đến tuổi thu hoạch thì dù lỗ vẫn không thể không bán.
Diện tích sắn xen với những cánh rừng phòng hộ
Phát triển sắn ồ ạt không theo quy hoạch dẫn tới nguy cơ xâm lẫn đất rừng là khó tránh khỏi. Dù người dân luôn giải thích là, tranh thủ đất trồng rừng để trồng sắn như mục tiêu “lấy ngắn nuôi dài”. Nhưng quan sát thấy hàng loạt diện tích  trống trơ, chỉ toàn là đồi sắn, chúng tôi chưa thật tin đây chỉ là “sự tranh thủ” đất rừng. Diện tích của nhiều trăm Ha nối tiếp nhau chỉ toàn là sắn thì tình trạng giữ nước đầu nguồn sẽ ra sao. Sự bào mòn sẽ diễn ra cùng với tốc độ làm nghèo đất nhanh, bởi đặc tính “phàm ăn” của loại cây này là nguy cơ hiện hữu khó tránh khỏi. Theo dự luận quần chúng, đầu đầu năm 2010 có những vụ cháy rừng cũng xuất phát từ nguyên nhân do người dân đốt nương bất cẩn mà gây ra.
          Theo ông Nguyễn Hữu Lý, trưởng phòng Kinh tế huyện Bảo Thắng, tuy không nằm trong kế hoạch phát triển, nhưng hiện tại toàn huyện cũng có đến 3000 ha sắn, tập trung nhiều ở các xã như Phú Nhuận, Xuân Quang, Trì Quang... Và cũng do hiệu quả kinh tế trước mắt, cho nên dù đã có cảnh báo từ phía chính quyền và cơ quan chức năng, nhưng người dân vẫn ồ ạt trồng một cách tự phát. Đáng ngại hơn, về lâu dài thì hệ lụy của nó là bào mòn đất rất lớn, nếu người dân trồng sắn liên tục sau 3 năm thì sau đó phải mất 4 năm cải tạo đất, nhưng  để trồng được cây khác cũng hết sức khó khăn.
           Câu chuyện sắn rớt giá năm nay lại thêm một dịp suy ngẫm về vấn đề lúng túng trong phát triển vùng nguyên liệu và bao tiêu sản phẩm nông nghiệp. Mặc dù tình trạng trồng ít thì lãi, trồng đại trà thì lỗ đã là điều không mới đối với nhiều cây trồng từ những năm trước. Vì vậy, bài học cần được rút ra phải được nhìn từ góc độ chỉ đạo, không thể để mặc cho người nông dân cứ đuổi theo lợi nhuận theo kiểu: “Thấy người ăn khoai cũng vác mai xới vườn” thì hậu quả này sẽ còn tiếp tục lặp lại, không chỉ với cây sắn mà còn với nhiều loại cây trồng khác.

                                                                                                    Mạnh Nguyên

14 tháng 5 2012

XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI Ở BẢO THẮNG ĐƯỢC XÁC ĐỊNH LÀ QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ CỦA MỌI CÔNG DÂN


          Xây dựng nông thôn mới là một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước ta, nhằm đẩy nhanh công cuộc Công nghiệp hóa và hiện đại hóa Nông nghiệp, nông thôn - xóa dần sự chênh lệch về phát triển giữa các vùng, miền - đặc biệt là sự chênh lệch thu nhập giữa khu vực nông thôn và thành thị. Tạo điều kiện để người nông dân vươn lên trong công cuộc “xóa đói, giảm nghèo”, tiến lên làm giàu ngay trên địa bàn cư trú.
Các doanh nghiệp ủng hộ tại Lê phát động Xây dựng Nông thôn mới-2011 
Thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Khoá X về “nông nghiệp, nông dân, nông thôn”, từ năm 2009, Thủ tướng Chính phủ đã có Quyết định số 491 “Ban hành Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới”. Đây là những nội dung căn bản cho triển khai các bước xây dựng, lập đồ án quy hoạch nông thôn mới trên phạm vi toàn quốc. Theo đó, các tiêu chí Quốc gia về xây dựng nông thôn mới bắt đầu từ quy hoạch tổng thể cho phát triển nông thôn theo hướng văn minh hiện đại, đồng thời phải bảo tồn được bản sắc văn hóa tốt đẹp. Tiếp đó là các tiêu chí về hạ tầng cơ sở như thủy lợi, điện lực, trường học, cơ sở vật chất văn hóa, chợ nông thôn, bưu điện... Từ đó, không ngừng nâng cao mức sống cho người dân nông thôn, bằng chuẩn hóa về nhà ở, tăng thu nhập bình quân đầu người, giảm hộ nghèo, chuyển đổi cơ cấu lao động nội ngành đi đôi với giảm tỷ trọng lao động ở khu vực nông nghiệp; chuyển đổi cơ cấu lao động sang các ngành nghề khác; tăng cường hiệu quả của hình thức tổ chức sản xuất tập thể. Về văn hóa - xã hội, đảm bảo đạt phổ cập giáo dục theo quy định, tăng số người tham gia bảo hiểm y tế và chuẩn hóa quốc gia về y tế cơ sở; đảm bảo 70% trở lên số thôn, bản đạt tiêu chuẩn “Làng văn hóa”; công tác vệ môi trường nói chung, vệ sinh môi trường trong sản xuất được bảo đảm và có đủ nước sinh hoạt hợp vệ sinh cho người dân nông thôn. Song song với phát triển kinh tế-xã hội, các tiêu chí về xây dựng hệ thống chính trị vững mạnh, an ninh trật tự xã hội cũng thường xuyên được giữ vững.
 Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng Cộng Sản Việt Nam khóa XI tiếp tục xác định đối với chủ trương xây dựng nông thôn mới, đó là: “Triển khai chương trình xây dựng nông thôn mới phù hợp với đặc điểm từng vùng theo các bước đi cụ thể, vững chắc trong từng giai đoạn; giữ gìn và phát huy nét văn hóa đặc sắc của nông thôn Việt Nam. Đẩy mạnh xây dựng kết cấu hạ tầng nông thôn. Tạo môi trường thuận lợi để khai thác mọi khả năng đầu tư vào nông nghiệp và nông thôn, nhất là đầu tư của các doanh nghiệp nhỏ và vừa, thu hút nhiều lao động.”.[1]
Là một huyện trọng tâm cả về Công-Nông nghiệp của tỉnh Lào Cai, nhưng Bảo Thắng hiện vẫn là địa phương có số đông người lao động ở khu vực nông nghiệp, cư dân nông thôn còn chiếm tỷ lệ trên 70%. Vì vậy, vấn đề xây dựng nông thôn mới đang là sự quan tâm lớn của cấp ủy, chính quyền và nhân dân các dân tộc trong toàn huyện. Theo báo cáo của UBND huyện, việc rà soát đánh giá thực trạng theo 19 tiêu chí, đến nay mới có 1 xã đạt được 8/19 tiêu chí, còn lại đại bộ phận các xã chỉ đạt được 4 đến 5 tiêu chí. Đặc biệt, có 2 xã chỉ mới đạt từ 2 và 3 tiêu chí.
Để triền khai Chương trình xây dựng nông thôn mới, huyện Bảo Thắng đang khẩn trương chỉ đạo các xã xây dựng Đề án tổng thể cho giai đoạn 2011 đến 2020. Trong đó sẽ phấn đấu để có 5 xã hoàn thành mục tiêu xây dựng nông thôn mới giai đoạn I (2011 - 2015). Đây thực sự là một thách thức lớn, nhưng nhìn chung, đại bộ phận quần chúng nhân đều rất hào hứng đón nhận chủ trương này.
          Tuy nhiên, để đạt được mục tiêu đã xác định, việc xây dựng nông thôn mới trước hết cần được coi là một phong trào cách mạng, mà phong trào đó sẽ trực tiếp đem lại quyền lợi thiết thực cho người dân trong khu vực nông nghiệp, nông thôn. Bởi vậy, để xây dựng thành công nông thôn mới không chỉ dừng lại ở trách nhiệm của các cấp, các ngành mà phải được quán triệt đến từng tổ chức kinh tế xã hội, từng hộ gia đình, từng người dân cùng chung tay thực hiện. Quan điểm chung về xây dựng nông thôn mới phải tuân theo phương châm, phát huy vai trò chủ động của cộng đồng dân cư là chính. Các hoạt động cụ thể của từng xã do chính người dân ở đó bàn bạc dân chủ, công khai và quyết định trên cơ sở các quy chuẩn của Nhà nước, có sự tư vấn của cán bộ chuyên môn.
Xây dựng nông thôn mới phải trên cơ sở lồng ghép các chương trình mục tiêu quốc gia, chương trình hỗ trợ có mục tiêu và các chương trình, dự án khác đang triển khai ở nông thôn. Từ đó có cơ chế chính sách khuyến khích mạnh mẽ đầu tư của các thành phần kinh tế, huy động đóng góp công sức của nhân dân. Việc thực hiện này gắn với các kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo an ninh quốc phòng của mỗi địa phương (xã, huyện). Bên cạnh đó, xây dựng nông thôn mới cũng là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội. Cấp ủy Đảng, chính quyền đóng vai trò lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành quá trình xây dựng quy hoạch, kế hoạch tổ chức thực hiện, động viên để người dân phát huy vai trò là chủ thể xây dựng nông thôn mới.
          Như vậy, trong công cuộc xây dựng nông thôn mới, cần tuyệt đối tránh tư tưởng coi đây như một sự “đầu tư trọn gói” của Nhà nước, dẫn tới tình trạng ỉ lại, trông chờ. Trong các tiêu chí về nông thôn mới có những hạng mục cần có sự hỗ trợ từ ngân sách Nhà nước, song cũng có không ít tiêu chí là do người dân trực tiếp đóng góp vật chất và thực hiện. Đơn cử như, việc huy động đất đai để xây dựng và cải tạo hạn tầng, việc huy động công sức để thực hiện các mục tiêu “xóa đói giảm nghèo”, xây dựng các thiết chế văn hóa, xã hội ở cơ sở và khu dân cư...Trước hết phải khơi dậy được tinh thần tự nguyện đóng góp vật tư và công sức của người dân, cùng với sự hưởng ứng từ các tổ chức kinh tế xã hội. Đặc biệt, đối với các tiêu chí tăng thu nhập, phấn đấu giảm nghèo, chuyển đổi cơ cấu lao động, phổ cập giáo dục, bảo vệ môi trường, xây dựng hệ thống chính trị vững mạnh và giữ vững an ninh ...thì tỷ trọng đóng góp từ cộng đồng dân cư là rất đáng kể.
          Hy vọng rằng, với truyền thống quật cường trong chống giặc ngoại xâm và cần cù, sáng tạo trong vượt khó, thoát nghèo. Nhân dân các dân tộc huyện Bảo Thắng sẽ tiếp tục đoàn kết một lòng xung quanh ban chấp hành Đảng bộ huyện; tuyệt đối tuân theo sự điều hành của chính quyền và nêu cao tinh thần tự lực, tự cường; tự nguyện đóng góp công sức và vật tư để sớm thực hiện thắng lợi công cuộc xây dựng nông thôn mới trên quê hương Bảo Thắng anh hùng.

                                                                                              Mạnh Nguyên




[1] Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI-NXBCTQG-Tr 123

13 tháng 5 2012

GIA ĐÌNH VÀ XÂY DỰNG VĂN HÓA GIA ĐÌNH (Bài viết nhân ngày gia đình Việt Nam - 26/6)




            Theo triết lý của xã hội học thì gia đình là tế bào của xã hội. Vì vậy, muốn có một xã hội tốt đẹp thì trước hết phải có nhiều gia đình chuẩn mực văn hóa. Gia đình có thể chỉ là một tập hợp nhỏ, gồm hai vợ chồng với một hai đứa con. Cũng có thể là một tập hợp lớn gồm nhiều thế hệ: ông bà, cha mẹ, các con, các cháu, các chắt…
Xưa kia, “tam đại đồng đường”, “tứ đại đồng đường” – nhiều thế hệ sống chung dưới một mái nhà, thường là điển hình của những gia đình có phúc đức, có nền nếp gia phong.
Ngày nay, do quá trình phát triển, cấu trúc của gia đình có thể khác đi đôi chút. Nhưng bất kể thế nào, con người sinh ra, ai cũng cần có một gia đình. Một gia đình đúng nghĩa, thì đó chính là nơi để con người ta được thỏa mãn mọi nhu cầu.
Ngay từ khi sinh ra, nơi tiếp xúc đầu tiên của mỗi cá thể con người chính là gia đình. Bởi vậy, gia đình là môi trường sống đầu tiên và quan trọng nhất, tiếp sau đó mới đến xã hội. Rồi ngay khi con người hòa nhập vào cuộc sống xã hội để mưu sinh, để khẳng định mình, để làm “ông nọ bà kia”, thì gia đình vẫn luôn là môi trường không thể thiếu. Trước mọi sóng gió cuộc đời, gia đình phải luôn là nơi bến đậu an bình nhất, là “tổ ấm” hạnh phúc, là nơi chia sẻ mọi nỗi buồn - vui; sự thành đạt cũng như nỗi bất hạnh của mỗi con người.
Tuy nhiên, nếu một gia đình mà “Nhà kia lỗi phép, con khinh bố; Mụ nọ chanh chua, vợ chửi chồng”; một gia đình mà bề trên sống không mẫu mực, không hết lòng vì con cháu; một gia đình mà đồng tiền ngự trị trên mọi giá trị tinh thần, văn hóa, đạo đức… thì “gia đình” ấy đã tự đánh mất đi vai trò là tế bào xã hội lành mạnh của chính nó.
Để tạo dựng một gia đình, cha ông ta đã đưa ra rất nhiều quy chuẩn như: “Gia giáo” - tức là cách thức giáo dục con cháu của mỗi gia đình theo một chuẩn mực nhất đinh. Trong đó, nội dung chủ yếu là giáo dục về đạo đức, phẩm chất. Đa số “con nhà có “gia giáo” đều trở thành những “người tử tế”. “Gia lễ” là những quy định chặt chẽ về đường ăn nết ở của mỗi thành viên trong gia đình, nó đòi hỏi ngôn ngữ trong nói năng, cử chỉ điệu bộ, cách ăn mặc phục sức với từng cấp bậc, thành viên trong gia đình phải có phép tắc. Không thể “cá đối bằng đầu”, “cá mè một lứa”!. Khổng Tử nói: “Đạo đức nhân nghĩa, phi lễ bất thành”. Gia giáo và gia lễ của từng gia đình có thể khác nhau, nhưng nhìn chung,  người ta lấy chữ “Nhân Từ” để dạy cho bậc làm cha mẹ; lấy chữ “Hiếu” dạy cho con cháu; lấy chữ “Nghĩa” dạy cho kẻ làm chồng; lấy chữ “Đoan chính” dạy cho người làm vợ; lấy chữ “Lương” (hiền lành) dạy cho người làm anh, chị; lấy chữ “Đễ” (nhún nhường) dạy cho kẻ làm em.
Muốn thực hiện được “gia giáo”. “gia lễ” thì phải có “gia pháp”.. Gia pháp nhằm bảo vệ, đề cao uy thế của người chủ gia đình, đồng thời duy trì sự thống nhất chung trong nếp sống gia đình.
“Gia phong” (hay còn gọi là nếp nhà) là lề thói mà mỗi thành viên trong gia đình phải noi theo - có thể coi đó là bản sắc của một gia đình. Theo Giáo sư Đào Duy Anh, gia phong là sự tổng hòa  về thành quả của gia giáo, gia lễ, gia pháp. Gia phong giúp chuẩn bị một cách tốt nhất cho mỗi một con người, để họ trở thành hữu ích, khi hòa nhập vào môi trường xã hội.
Đã có một thời, cứ nói đến cái gì thuộc xã hội cũ, người ta đều cho là lạc hậu, là phải xóa bỏ. Gia giáo, gia lễ,… cũng bị xếp chung số phận đó. Nhiều người lầm tưởng có thể dùng “giáo dục xã hội” thay thế cho giáo dục gia đình.  Vì vậy mà vai trò gia đình bị hạ thấp. Từ đó dẫn đến coi nhẹ vai trò của cha, mẹ; con cái chỉ tuân theo những gì “xã hội” giáo dục. Thậm chí có lúc con cái “phê phán” cha, mẹ, ông, bà là  “cổ hủ lạc hậu”, là “lỗi thời”!... Chữ “hiếu” tuy vẫn còn được nhắc đến trong lớp người trẻ, nhưng “thực hiếu” ra sao thì ít người hiểu được cặn kẽ. Do thời lượng của chương trình, xin được bàn riêng về chứ “Hiếu” ở một dịp khác.
Ngày nay, vấn đề giáo dục đã được coi là vẫn đề của toàn xã hội. Trong đó việc giáo dục một con người phải thực hiện đồng bộ ở cả 3 môi trường, đó là gia đình, nhà trường và xã hội. Tuy nhiên vấn đề giáo dục gia đình luôn có một tầm quan trọng đặc biệt. Vì, giáo dục gia đình được thực hiện ngay từ khi con người mới chào đời. Giai đoạn vị thành niên - một giai đoạn quan trọng trong quá trình hình thành nhân cách, con người lại có thời gian sống nhiều nhất với gia đình; sự ảnh hưởng về nền nếp gia giáo của mỗi gia đình luôn tạo nên một dấu ấn cực kỳ sâu sắc trong tiềm thức và tác động khá rõ vào quá trình phát triển nhân cách.
Tuy nhiên, xây dựng “văn hóa gia đình” phải bắt đầu từ bên trên, chứ không phải từ bên dưới. Nghĩa là phải dạy cho người làm cha, làm mẹ cách thức và đạo lý làm cha, mẹ ngay từ khi họ được đóng vai trò phụ huynh. Rồi phải dạy họ cách thức làm con, em – để họ biết nêu gương sáng cho chính con em họ. Thậm chí còn phải làm ngược lại, dạy cách làm tròn phận sự con - em trước, rồi mới đến cách làm cha, làm mẹ. Phải làm cho gia đình thực sự trở thành nền tảng đạo đức của xã hội.
Phong trào xây dựng “gia đình văn hóa” đang được Đảng ta phát động, đây sẽ là động lực để phát huy vai trò tích cực của mỗi cá nhân trong xã hội, giữ gìn được truyền thống nhân ái, đạo đức, xây dựng mối quan hệ tốt đẹp giữa người với người. Nội dung chủ yếu ở đây là xây dựng nếp sống cá nhân, nếp sống gia đình và nếp sống xã hội. Bác Hồ dạy: "Hạt nhân của xã hội là gia đình". Xây dựng gia đình văn hóa mới chính là xây dựng con người mới - bởi con người vừa là sản phẩm của xã hội, vừa là chủ thể có ý thức của xã hội.
                                                                                                                                       M.N