Cả Mõ

camoz77.blogspot.com/

17 tháng 5 2013

TRIẾT LÝ TUỔI GIÀ

                                              (Phỏng theo nội dung bài “Hiểu Đời” của Chu Dung Cơ)


Đời người ngắn ngủi làm sao?
Sống vui, sống khỏe, thanh cao cho đời.
Mỗi ngày sống, một ngày vui,
(Trẻ vui bạn trẻ, già thương bạn già)
Tạo nên hạnh phúc đẹp tươi cho mình.
Niềm vui ẩn chưa vô tình,
Trong công việc nhỏ góp thành niềm tin.

Tuổi cao nuôi chí cho bền,
Tâm hồn trong sáng, chớ nên vì tiền,
Cần tiền là lẽ đương nhiên,
Cũng không quá trọng đồng tiền sinh sôi.
Khi ta sinh ở trên đời,
Chẳng ai mang đến cho  người (Kim-ngân).
Tiền tài là vật ngoài thân,
Chết đi cũng chẳng ai cần mang theo.
Rộng lòng mở chút hầu bao,
Giúp người cần giúp-vui nào vui hơn.
Hãy mua một chút an nhàn,
Kiếm tiền cũng phải biết làm chi đây.
Cầm tiền chớ để bẩn tay;
Chớ làm tôi tớ, đọa đầy bản thân.
Nhân sinh lắm nỗi phong trần,
Quãng đời còn lại cũng cần đổi thay:
Bỏ đi quan niệm xưa nay,
Hãy làm chim én tung bay giữa trời.
Cần ăn, cần mặc, cần chơi,
Chất lượng cuộc sống mỗi người nâng cao,
Giữ cho sức lực dồi dào,

Trần đầy ý nghĩa tuổi cao chí bền.

Của con nhà cửa, bạc tiền,
Địa vị quá khứ, vẻ vang qua rồi.
Sức khỏe đích thực của Người.
Lo cho con trẻ-một đời mẹ cha.
Ốm đau chớ nghĩ cậy nhờ,
Cũng là quy luật liệu lo luân hồi.
Niềm vui con được nên người,
Chớ mong báo đáp để rồi khổ đau,
Dù con có hiếu đến đâu,
Ốm đau cũng chỉ vài câu đủ rồi.
Phải chăng mong đợi bạn đời,
Người ta cũng yếu, đứng ngồi chửa xong.
Còn ai giúp đỡ mình không,
Chắc còn một cách cậy trông đồng tiền.
Mất được là lẽ đương nhiên,
Để lòng rộng mở chớ quên ân tình.
Cũng nên biết đủ với mình,
Đam mê vui sống bình sinh chan hòa.
Thiện căn bản tính ông cha,
Ghế cao cũng chẳng hơn là tuổi cao.
Niềm vui hai chữ thanh tao,
Tận tâm công việc bóng đào thảnh thơi.
Trải qua quá nửa đời người,
Giành cho sự nghiệp, cho đời, cho con.
Quan trường sóng gió càn khôn,
 Tuổi già giữ lấy tâm hồn sáng trong.
Tư duy hạnh phúc cầu mong,
Chăm lo cuộc sống vui cùng cháu con.
Tuổi giá giải trí nhiều hơn,
Để tâm trong sáng nỗi buồn xua tan.
Giữ cho hưng phấn tuần hoàn,
Khoan dung độ lượng chăm làm điều hay.
Con người xã hội hôm nay,
Chớ nên bịt mắt bưng tai một mình.
Chăm lo cuộc sống an lành,
Tuổi già nên chút đa tầng, đa nguyên.
Thêm nhiều bạn để giao duyên,
Cho nhiều màu săc, tăng thêm tuổi đời.
Biết làm cuộc sống thêm tươi,
Tuổi cao mà vẫn rạng ngời sắc xuân,
Nỗi đau hóa giải xua tan,
Thời gian là vị thuốc tiên cho mình.
Mỗi khi đau yếu sự tình,
Lạc quan giữ trọn tâm linh tinh thần.
Người già nghĩ chuyện xa gần,
Cuối đường sự nghiệp, cuối sân cuộc đời.
Vinh quang cũng đã xa vời,
Khói bay tan hết một thời vinh hoa,
Tìm về hoài niệm xưa xa,
Những câu chuyện cũ ấy là đồng thân.
Nhớ thời ở tuổi thanh xuân,
Nhớ về hồi ức như gần hôm qua,
Niềm vui với những bạn già,
Viết lên cảm xúc vần thơ tâm hồn.
Mặc cho sóng gió càn khôn,
Mặc cho vận cuộc chớ buồn làm chi.
Quả xanh chẳng ngọt bao giờ,
Chữ sinh, chữ lão đến bờ vinh quang,
Chữ mệnh, chữ tử hợp tan,
Lẽ đời quy luật vô thường mà thôi.
Nếu không chống được mệnh trời,
Ra đi thanh thản về nơi cội nguồn.
Đặt cho cái dấu thật tròn,
Cuộc đời chấm hết tâm hồn thành thơi.

              Tiến Dũng
             (Viết dựa theo nội dung bài “Hiểu Đời” của Chu Dung Cơ)

26 tháng 4 2013

VĨNH BIỆT CỤ NGUYỄN VĂN ĐIỆN

           (Chú tôi, cụ Nguyễn Văn Điện (Tức Nguyễn Ngọc Liêu) đã từ trần ở tuổi 81 (21/4/2013). Bài viết này đã được chuyển thể qua kịch bản truyền hình, tôi coi đây như một nén nhang vĩnh biệt Chú) 

          Cụ Nguyễn Văn Điện (tức Nguyễn Ngọc Liêu) sinh năm 1933- sinh, trú quán tại thôn Cổ Đẳng, xã Tân Liên, huyện Vĩnh Bảo, Thành phố Hải Phòng. Thuở thiếu thời của cụ là những năm quê hương còn chìm trong nỗi lầm than, cực khổ dưới ách thống trị của Phong kiến - Thực dân. Mới hơn mười tuổi cụ đã phải chứng kiến nạn đói khủng khiếp vào tháng 3 năm Ất Dậu (1945). Rồi tiếp đó là nạn dịch tả, dịch thương hàn kinh hoàng, cướp đi mạng sống của biết bao người dân trong thôn xóm, trong đó có cả những người thân yêu của chính gia đình Cụ. Lớn lên Cụ lại phải chứng kiến quê hương chìm đắm trong lửa đạn chiến tranh-Tất cả đều xuất phát từ hệ quả của “Đêm trường nô lệ”. Vì lẽ đó, Cụ đã sớm giác ngộ Cách mạng, tham gia vào cuộc kháng chiến “chín năm” chống Thực dân Pháp xâm lược.
          Đó là năm 1951, trước tình cảnh quê hương chìm trong máu lửa chiến tranh, cụ Điện đã xung phong nhập ngũ để có cơ hội giết giặc, góp phần giải phóng quê hương. Cùng đồng đội, cụ đã tham gia nhiều trận chống càn của giặc ở các địa phương thuộc Hải phòng, Kiến An. Trong một trận chống giặc càn - tháng 8 năm 1953 tại huyện Tiên Lãng, trước thế địch mạnh hơn ta nhiều lần cả về quân số và trang bị vũ khí. Cụ đã cùng đồng đội ngoan cường chiến đấu, đẩy lùi nhiều đợt tấn công của địch. Nhưng cũng trong trận chống càn này, Cụ đã bị thương, buộc phải rời quân ngũ và sau này được xếp hạng thương tật 4/4.
         Về với đời thường, Cụ Điện luôn cố gắng vượt qua những hạn chế về sức khỏe và  thương tật, hăng say trên các lĩnh vực công tác được giao; đặc biệt là xây dựng phong trào văn hóa - văn nghệ của địa phương; đóng góp công sức vào hoạt động trao truyền và phát huy vốn dân ca Chèo-một loại hình nghệ thuật dân gian của quê lúa đồng bằng Bắc bộ. Với thành tích trong cuộc trường kỳ kháng chiến vĩ đại của Dân tộc, Cụ đã được Nhà nước tặng thưởng Huân-Huy chương kháng chiến chống Pháp hạng 3; đồng thời, để ghi nhận sự cống hiến trong công tác xã hội, cụ tiếp tục nhận được nhiều huy chương, kỷ niệm chương của các đoàn thể chính trị xã hội.
          Sau này, mặc dù sức khỏe ngày càng giảm sút bởi tuổi tác và vì sự tái phát vết thương, cộng với những khó khăn về vật chất trong cuộc sống đời thường. Nhưng cụ vẫn luôn tỏ ra lạc quan để “sống vui, sống khỏe”. Cùng với những thú vui tao nhã, Cụ đã góp phần làm đẹp thêm nét đặc trưng về văn hóa truyền thống của quê nhà. Với gia đình, Cụ là người chồng, người cha, người ông đáng kính; với dòng họ cụ là một vị cao niên có nhiều đóng góp trong gìn giữ nếp nhà và tham gia cung cấp các tư liệu lịch sử, nhằm duy trì trật tự, tôn ty của dòng tộc. Dù đã ở tuổi “bát tuần”, nhưng Cụ vẫn luôn trăn trở, lo toan xây dựng gia đình và gìn giữ nền nếp của dòng họ; giáo dục con, cháu và góp phần vào sự nghiệp xây dựng làng - xã văn hóa. Cụ luôn dạy bảo cho con, cháu giữ gìn đạo đức gia phong, mỹ tục, tránh xa những cám dỗ đời thường. Vì vậy, các con, cháu, chắt  của cụ đều là những công dân tốt, tựa như:
“Măng non ấm bụi tre già,
Đời con nối chí đời cha anh hùng”.

           Nay do tuổi cao, sức yếu, mặc dù đã được các thầy thuốc tận tình cứu chữa, được các con, các cháu hết lòng phụng sự, nhưng cụ đã vĩnh biệt gia đình, con, cháu, chắt; vĩnh biệt bà con lối xóm và đồng chí, đồng đội để về cõi vĩnh hằng vào hồi 3 giờ 20 phút, ngày 20/4/2013 (tức là ngày 11/3 năm Quý Tỵ) - hưởng thọ 82 tuổi. Cụ Điện đã đi xa, nhưng cuộc đời Cách mạng và  ý chí của người chiến sỹ quân đội nhân dân - hội viên Cựu chiến binh Việt Nam vẫn luôn là niềm tự hào cho đồng chí, đồng đội và là tấm gương để con cháu noi theo. 
          Hôm nay, trong cái quan tài đỏ chói, sơn son, thiếp vàng này. Không còn buồn, vui, căm giận, không còn ưu tư, vướng bận nỗi trần ai... Có lẽ cả cuộc đời Cụ, cho đến bây giờ mới thực sự thanh thản, mới thực sự "sung sướng" nhất. Bởi lúc này mới hội được tương đối đầy đủ các con, các cháu, chắt, những người thân yêu nhất đến với Cụ, phủ phục trước linh cữu để bày tỏ sự tiếc thương, xót xa cho cuộc đời vất vả của một người cha. Và cũng đến lúc này Cụ mới có được đầy đủ những người bà con từ khắp nơi trong thôn, trong xã, trong huyện...về quây quần xung quanh, cầu mong cho hương hồn Cụ được an lành nơi cực lạc.. Niềm vinh dự nhất của Cụ là được phủ trên quan tài lá cờ đỏ sao vàng của Tổ Quốc do những người đồng Hội Cựu chiến binh thực hiện... 
           Trần Tuấn Tiến-một người bạn của các cháu Cụ bày tỏ nỗi lòng với bài thơ lục bát, có đoạn viết rằng:
“Ông "đi", tiếng nhị "đi theo"
Cả đời cái khó, cái nghèo dắt lưng...
...Cả đời cơ chỉ làm ăn
Tiếng tơ, tiếng trúc quẩn quanh bên mình.
Cả đời mang nặng nghĩa tình
Cả đời vun vén gia đình, vợ con.
Làm tròn nhiệm vụ nước non
Mà ông Giời vẫn như còn giận chi?
Non Tây, ông đã ra đi
Thác về”, “sống gửi” có gì tiếc đâu?
Mai sau...mãi mãi mai sau
Vẳng nghe tiếng nhị hát câu não lòng!”

          Để tỏ bày tình cảm của những người đồng chí, đồng đội; của người thân trong gia đình và xóm làng, thân hữu, lời điếu của Ban Tang lễ và lời vĩnh biệt của Hội Cựu chiến binh xã Tân Liên đã trân trọng ghi nhận công lao đóng góp của Cụ với Tổ quốc, với quê hương  và trách nhiệm với gia đình.
         Đại diện gia đình cũng xúc động nói lên sự biết ơn với cấp ủy, chính quyền, các đoàn thể địa phương; bạn bè thân hữu và bà con lối xóm đã trọn nghĩa, vẹn tình, sẻ chia niềm tiếc thương trước nỗi đau mất mát của gia đình, cùng tề tựu đông đủ để tiễn đưa cụ về nơi an nghỉ cuối cùng. 
           Thiết nghĩ, quy luật sinh - tử ở đời là do quyền tạo hóa. Song, Cụ Nguyễn Văn Điện đã ra đi vào cõi vĩnh hằng, vĩnh biệt đồng chí, đồng đội; vĩnh biệt bà con chòm xóm và người thân vẫn là một sự hẫng hụt về tinh thần, để lại cho mọi người nỗi trống vắng và niềm tiếc thương vô hạn.
           Vĩnh biệt Cụ, hội Cựu chiến binh; hội Người cao tuổi và hội Nông dân xã Tân Liên cùng mất đi một người đồng chí luôn tận tâm, giàu nhiệt huyết; gia đình mất đi người chồng, người cha, người ông, người cụ đầy tình thân yêu và kính mến. Để tỏ lòng thương tiếc Cụ, đồng chí, đồng đội và đồng bào địa phương, thân bằng cố hữu xa gần đã cùng các con, cháu, chắt của Cụ quy tụ về đây, thành tâm dâng lên Cụ nỗi tiếc thương với tình cảm chân thành trước phút giây tiễn biệt. Thành kính tiễn đưa Cụ về Nghĩa trang nhân dân thôn Cổ Đẳng, xã Tân Liên để Cụ được cùng Tiên Tổ hưởng trăng thanh, gió mát; lắng tiếng sáo diều của quê hương trong giấc ngủ ngàn thu!. 
                                                                   M.N

TỪ TRẬN VÕ TRANG ĐẦU TIÊN Ở LÀO CAI


          Nhân kỷ niệm 65 năm, ngày truyền thống Lực lượng vũ trang (LLVT) tỉnh Lào Cai (02/4/1948 -02/4/2013) xin được lược ghi, dựa theo hồi ký của đồng chí Trần Long –Tức Long Khánh, nguyên bí thư huyện ủy Bảo Thắng- ủy viên ban thường vụ tỉnh ủy Lào Cai. Phần nói về chiến công đầu tiên của lực lượng vũ trang Tỉnh trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp-cuối năm 1948.

          Nửa năm sau ngày thành lập LLVT tình Lào Cai - vào khoảnh cuối tháng 11 năm 1948, đồng chí Hoàn Quy, bí thư Tỉnh ủy Lào Cai triệu tập cuộc họp tại Làng Chưng, bàn kỹ về chủ trương  kế hoạch võ trang tranh đấu.
          Tình hình lúc ấy rất căng thẳng, ngày nào tên quan một-Bến Đền cũng kéo quân lên Cam Đường lùng bắt thanh niên. Việc tổ chức võ trang tranh đấu ở chi bộ Cam Đường được bàn và triển khai rất khẩn trương. Chủ trương là, khi nổ súng võ trang phải đồng thời thực hiện “vườn không, nhà trống”. Cất dấu lương thực để chuẩn bị cho chiến đấu lâu dài và cũng phải tính đến việc vừa chiến đấu, vừa sản xuất.
          Các thôn họp rất sôi nổi, nhưng gay go nhất vẫn là súng đạn. Bấy giờ mới có 1 trung đội của ta vào đến Soi Cờ để chuẩn bị cho quần chúng nổi dậy. Trong tay chúng tôi cũng chỉ có 1 khẩu Sít-ten và một số súng đạn của đơn vị đồng chí Trần Hợp. Chi bộ đã tổ chức cho việc tự sản xuất vũ khí rất khẩn trương và quán triệt phương châm “Cướp súng giặc để đánh giặc”. Cùng lúc đó chúng tôi đã giác ngộ được 22 anh em binh lính địch, người Cam Đường, hẹn khi có nổ súng vũ trang thì cùng kéo nhau về với phía ta.
Đc Trần Long (Người đứng bên trái)
          Sau một thời gian chuẩn bị, đồng chí Hoàng Quy cùng với chúng tôi đã bàn bạc, quyết định: Mười giờ đêm ngày 12/12/1948 là giờ quy định nổ súng võ trang tranh đấu. Đúng 9 gờ tối hôm đó, tôi lên nói chuyện với anh chị em, bao căm hờn uất ức bấy lâu dồn nén lại đã được kết tinh ở từng lời, từng cử chỉ, để rồi cả cuộc mít tinh cùng thấm nhuần Chỉ thị của đồng chí bí thư tỉnh ủy Hoàng Quy là, “Khi nổ súng võ trang tranh đấu, chỉ có tiến. Tiến là thắng lợi, lùi là tự sát”. Đó cũng là giờ phút thiêng liêng và hệ trọng của nhân dân các dân tộc xã Cam Đường, công khai đấu tranh võ trang với địch ngay trong lòng địch. Ba tổ diệt Tề, trừ gian xuất phát. Tôi cùng anh em tiến vào nhà Tổng Bao. Thấy anh Việt Sơn vào, Tổng Bao còn nhỏm dậy hỏi: “Cháu đi đâu đấy?”. Chúng tôi đã nhanh chóng ập vào bắt trói hắn lại, tôi thay mặt Việt Minh tuyên bố: “Tổng Bao cam tâm làm tay sai cho giặc, đã giúp giặc Pháp bắt bớ, chém giết, bóc lột đồng bào, nay xứng đáng phải được trừng trị”. Tổng Bao cúi đầu nhận tội và lắp bắp xin được tha chết. Cùng lúc ấy tôi gặp và được anh Tô Vũ báo cáo, đã diệt được tên Bình Thi và tên Sen chỉ điểm của địch. Lúc này tiếng súng ở đồn Bến Đền cũng đang nổ giòn dã. Nhân dân ở 2 xã Cam Đường và Gia Phú cùng hò reo “Ta tấn công đồn Bến Đền rồi...!”. Tuy nhiên do ta chưa có kinh nghiệm công đồn, nên trận đánh đồn Bến Đền đêm ấy chưa thành công mỹ mãn, chỉ mới giết được 5 tên địch và bắn bị thương 4 tên, chưa hạ được đồn. Nhưng cũng đã làm cho bọn địch một phen khiếp vía.
          Sáng 13/12, đồng chí Tô Vũ vào làng, tổ chức cho nhân dân sơ tán lên núi. Tôi viết báo cáo gửi đồng chí Hoàng Quy rồi lên Tùng Tung, tìm đơn vị đồng chí Trần Hợp để phối hợp bố trí lực lượng chặn địch từ thị xã tiến vào khu võ trang. Khi quay về, chúng tôi gặp toán lính của tên quan một Bến Đền vừa đi vừa bắn súng thị uy bừa bãi ở Xuân Cánh. Thực ra là chúng bắn súng để tự trấn an, vì chưa kịp hoàn hồn sau trận bị tập kích đêm trước. Tôi hội ý nhanh với Trần Hợp, nhận định là chúng đang tìm cách chạy lên thị xã, rồi chúng tôi đã nhanh chóng bố trí phục kích. Số lượng của quân ta lúc ấy chỉ vỏn vẹn có 9 người, đây lại là trận phục kích đầu tiên của Khu võ trang tranh đấu.
          Địch tới, đi đầu là một tên khố đỏ cặp nách 2 khầu “góp tám”. Chúng đã phát hiện được tôi, nhưng chưa có lệnh nổ súng nên tôi chỉ dùng dũng khí trừng trừng nhìn lại. Hai người lính cảm nhận được có điều nguy hiểm nên họ rảo bước đi nhanh mà không có ý bắn lại chúng tôi. Tên B-Ru-Chê đi sau một quãng, thấy tôi, y giơ tiểu liên lên bắn hết nửa băng. Tôi ngả người ra phía sau và rút lựu đạn ném xuống đường. Trần Hợp nhảy ngay xuống đường cướp khẩu Sít-ten của địch, bắn liền một băng làm bọn địch chạy tung tóe. Kết quả trận đánh ấy ta đã diệt một sỹ quan Pháp, thu một khẩu Sít-ten, một cặp tài liệu và giải phóng được 2 người bị địch bắt, trong đó có một đồng chí liên lạc mang báo cáo của tôi cho đồng chí Hoàng Quy, vừa bị chúng bắt ở Xuân Cánh.
          Ngày hôm sau, theo nguồn tin của nhân dân thị xã cho biết, mấy tên địch bị phục kích chạy về thị xã, có đứa chỉ còn độc một quần xi-líp trên người. Hẳn là chúng quá khiếp đảm. Sau đó mấy hôm, một người lính khố đỏ trong số 2 người đã nhìn thấy tôi phục kích mà không bắn trở về đầu hàng.
          Thắng lợi nhỏ trên đây như một làn sóng truyền đi khắp các thôn bản. Nhân dân Cam Đường phấn chấn, khắp nơi cùng truyền tin là “Ta vừa phục kích tên một Bến Đền, giết chết một thằng quan người Pháp”. Sau thắng lợi ban đầu ấy, ta cũng nhận thấy rõ sự lúng túng, hoảng hốt của địch khi bị phục kích vũ trang. Đặc biệt là, chúng không thể ngờ rằng chúng ta đã lọt sâu vào trong lòng chúng. Cuộc nổi dậy võ trang ở Cam Đường, Gia Phú đã như một mũi dao, xáy thẳng vào tim gan của địch; Cam Đường đã trở thành khu căn cứ tự do đầu tiên của tỉnh Lào Cai.

                                                                                Mạnh Nguyên

15 tháng 1 2013

HỒI SINH


 Nguyễn Ngọc Dương
Tôi biết ông Ngô Hữu Khôi khi ông là cán bộ của Công ty Ngoại thương cấp huyện, bấy giờ được gọi là Công ty Xuất nhập khẩu huyện Bảo Thắng. Ông là đảng viên Đảng Lao động Việt Nam từ đầu những năm năm mươi. Năm 1973, khi thực hiện Chỉ thị của Trung ương về Bảo vệ Đảng, làm Trong sạch nội bộ, ông bị tố cáo năm 1946 từng tham gia Thanh niên Việt Nam Quốc dân đảng phản động. Thế là ông bị đưa ra khỏi Đảng, mặc dù ông theo Việt Minh từ năm 1946. Trong trận Phố Ràng (tháng 6 năm 1949), ông bị thương và sau này hưởng chế độ thương tật hạng 4.
Tháng 9 năm 1986, tôi được chuyển công tác từ Trường Đảng tỉnh Hoàng Liên Sơn về huyện Bảo Thắng để hợp lý hóa gia đình. Biết tôi được bổ sung vào cấp ủy huyện, làm Phó trưởng ban thường trực Ban Tổ chức Huyện ủy, nên một hôm ông Khôi đến nhà riêng bày tỏ sự tình. Ông đặt vấn đề: “Tôi biết anh mới ở tỉnh về, được phân công phụ trách công tác Bảo vệ chính trị nội bộ của Huyện ủy nên hy vọng anh có thể giúp tôi làm sáng tỏ nỗi oan mười ba năm qua được chăng?”... Và ông kể, tôi nghe...Một tối, hai tối, ba tối... Tôi vẫn kiên trì lắng nghe. Ông kể chuyện có duyên, khúc triết, rõ ràng, nhiều chi tiết cuộc sống từ thời tôi chưa ra đời được ông mô tả lại một cách sống động. Có hôm hai chú cháu ngồi đến khi có tiếng gà gáy sang canh...
Nay, tôi chép lại câu chuyện của ông như một kỷ niệm nhỏ trong đời công tác của mình.
Ông Khôi mở đầu câu chuyện: “Sự kiện này đối với tôi còn hơn cái chết, bởi nó bị “bức tử” về sinh mạng chính trị. Tôi theo Đảng từ lúc chưa biết Đảng là ai, chỉ thấy người ta nói Việt Minh, một tổ chức của Cụ Hồ, người đứng đầu Chính Phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa nên tôi theo và đã trực tiếp tham gia chiến đấu nhiều trận, sẵn sàng hy sinh cả tính mạng. Rồi trong Trận Phố Ràng tôi bị thương...  Cho nên khi bị Tổ chức nghi ngờ, loại bỏ, tôi cảm thấy từ giờ phút đó tôi đã chết, chỉ còn lại cái thần xác vô hồn. Như vậy, tôi đã chết mười ba năm rồi, vâng, mười ba năm nhưng chưa chôn được, anh ạ!” Trong ánh đèn dầu vàng vọt giữa đêm khuya, tôi vẫn nhận ra đôi mắt ông đang cố nén xúc động khi chạm phải vết thương lòng còn rỉ máu. Thực ra, mười ba năm trước, nếu không có sự giám sát, động viên tích cực của người vợ hiền thì sau cái Quyết định nghiệt ngã ấy, ông đã về thế giới bên kia rồi, cả thể xác và nỗi oan  của ông đã vùi sâu ba tấc đất và vĩnh viễn không ai biết câu chuyện này.
Vào một đêm cuối thu khi tiết trời đã se lạnh, ông ngồi một mình trước ngọn đèn dầu leo lét trong ngôi nhà gỗ ẩn dưới những hàng nhãn cổ thụ, cạnh con sông Hồng nước cuộn lên, đỏ đọc như máu. Trên bàn là một ấm trà đặc, một bao Tam Đảo, một gói thuốc sâu đủ để hằng chục người có thể rủ nhau đi thăm Diêm Vương. Ông đã quyết định giờ phút hệ trọng nhất của đời mình để khỏi phải hằng ngày dằn vặt, khỏi phải “sống cũng như chết” theo quan niệm của ông!” Sự giằng co giữa sự sống và cái chết của ông lúc ấy là cuộc độc thoại với hai thế lực đối lập: một bên là người vợ hiền và chín đứa con, cả gái lẫn trai mơn mởn như những cây măng, cây tre đang vươn lên ấm bụi..., một bên là sự đau đớn về tinh thần đến tột cùng bởi nỗi oan khiên, không lối thoát, không thể giải thích, mọi đơn từ khiếu nại đều như hòn đất ném xuống ao bèo... Đêm ấy, đến độ 3 giờ sáng ông đã đốt gần hết bao Tam Đảo. “Hai thế lực” cứ giằng nhau từng tấc, từng li... Rồi hình ảnh đồng chí chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra huyện ủy dằn từng tiếng: “Anh làm tay sai cho bọn Việt Quốc, Việt Cách, lại âm mưu chui sâu, leo cao nhằm phá hoại sự nghiệp Cách mạng. Nhưng may, Đảng sáng suốt đã phát hiện sự dối trá của anh, nên chúng tôi buộc phải đưa anh ra khỏi Tổ chức. Anh phải nghiêm chỉnh chấp hành...” Lời kết tội của người đồng chí mỗi câu, mỗi chữ cứ như từng nhát dao đâm nát trái tim ông, trái tim đã mang dòng máu nóng bỏng trước mũi súng kẻ thù trong cuộc kháng chiến trường kỳ của Dân tộc... Ông nghĩ đến người vợ hiền, yêu nhau từ trong cảnh ngộ đi làm thuê, ở đợ, đầu gối, má kề mấy chục năm lên thác, xuống ghềnh. Rồi ông nhớ đến  từng gương mặt của chín người con: nào Phượng, Long, Khoa , nào Vân, Tuyên, Phi, nào Phương, Quyền, Quý, đứa nào cũng ngoan, cũng sáng sủa, học hành giỏi giang... Nhưng tất cả chúng phải chịu một “vết đen” trong lý lịch bởi có ông bố “phản động”! Và tương lai cuộc đời tất sẽ khó “ngóc đầu” lên được! Tình cảm của ông dành cho Đất nước, cho Dân tộc, cho Đảng và Bác Hồ, công lao của ông vào sinh ra tử trong cuộc kháng chiến trường kỳ...tất cả đều công cốc. Ông phải chết, ông không thể sống trong bối cảnh như thế! Trong lồng ngực ông tự dưng có một tảng đá dâng lên chẹn lại sự co bóp của con tim. Trước mắt ông dường như chỉ còn một màu vàng quạch của ngọn đèn hoa kỳ rọi xuống mặt chiếc bàn nước cũ kỹ... Ông từ từ với tay vào gói thuốc sâu, nghiêm trọng mở ra...
Bỗng ông giật mình bởi hai cánh tay vừa ấm vừa mềm ôm ghì lấy toàn thân. Gói thuốc sâu bị hất tung xuống nền nhà. Tiếng khóc của người đàn bà dội lên giữa đêm khuya, trong không gian tĩnh lặng đến rợn người. “Ông Khôi, sao ông lại thế?... Ông không được chết, ông không được chết! Ông phải sống. Ông không thương tôi và các con sao? Mà ông định chết đi để chôn vùi tất cả nỗi oan của mình, sự trong sáng của mình xuống ba tấc đất sao? Ông không muốn để cho đàn con của chúng ta hiểu sự thật về người cha của mình sao? Ông phải sống để tiếp tục khiếu nại, dù đến hơi thở cuối cùng vẫn phải tìm cách cho mọi người biết sự thật. Nếu Tổ chức không biết thì chính con cái chúng ta phải biết. Tôi van ông, ông không được chết!...”  Ông ngồi lặng đi, rồi bất thần quay lại ôm chặt bà và nói trong nước mắt: “Bà ơi, thế này thì tôi chết sao được!... Thôi tôi nghe bà, tôi cảm ơn bà đã làm tôi tỉnh ra rồi. Tôi sẽ sống”. Và ông nói thật với giọng cố pha chút hài hước nhưng cay đắng: “Vậy từ nay bà phải chăm sóc tôi để tôi có sức tiếp tục đi khiếu nại, đòi lại sự công bằng cho gia đình mình nha”...
Năm 1945, Việt Nam Quốc Dân Đảng (Việt Quốc), dưới sự hỗ trợ của quân đội Trung Hoa Dân quốc đã trở về Việt Nam, đánh chiếm Lào Cai và cướp chính quyền ở Sa Pa. Việt Nam Quốc dân đảng đã kiểm soát toàn bộ tỉnh Lào Cai. Sau cuộc chết đói hai triệu người ở đồng bằng Bắc Bộ tháng Ba năm 1945, cuộc sống ở quê Xứ Đoài (Sơn Tây) của Ngô Hữu Khôi vẫn rất khốn khổ. Người gầy gò, nhỏ thó nên mọi người gọi Khôi là “thằng Cặng”. Cặng lên Lào Cai để đi ở chăn trâu, cắt cỏ cho ông chú họ là Ngô Hữu T. tại xã Gia Phú huyện Bảo Thắng. Trong đoạn đời đi ở đợ này, Cặng đã gặp và yêu người con gái thùy mỵ, nết na, có tên Vượng, nhưng dân làng quen gọi cô là “Trố”, cũng là người ở giúp việc trong gia đình ông chú. Ông B.H, người cầm đầu Việt Nam Quốc dân đảng xã Gia Phú thường lui tới nhà ông T. Một hôm, ông B.H đã gọi Cặng lên yêu cầu tham gia vào một tổ chức gọi là Việt Nam Thanh niên Quốc Dân Đảng. Cặng chẳng hiểu gì nhưng cũng lờ mờ thấy đó là một công việc hệ trọng và nguy hiểm. Anh đã thẳng thắn từ chối với lý do: “Cháu mù chữ nên không biết làm gì đâu, chú cứ để cho cháu chăn trâu, cắt cỏ thôi!”...
Cụ Ngô Hữu Khôi - 90 tuổi 
Một buổi tối, Cặng và Trố hẹn nhau ra bãi sông Hồng tâm sự. Vừa gặp Cặng, Trố đã rất nghiêm trọng: “Anh Cặng, có chuyện này quan trọng lắm. Chiều nay, khi xách siêu nước sôi lên pha trà cho chú T và ông B.H, em thấy ông B.H nói là sẽ bắt anh, anh Hòa và anh Tuyên vào tổ chức gì ấy...Ông ấy còn bảo: “Nếu không nghe thì phải bắt!...”. Cặng choáng người khi nghe thấy tiếng “bắt”. Anh thật sự lo sợ... Nhìn dòng sông Hồng chảy xiết, Cặng bỗng nghĩ đến nước phải bỏ trốn về xuôi. Tuy phải xa người yêu, anh sẽ nhớ lắm đây, nhưng phải chạy trốn vụ bắt cóc này đã. Hôm sau anh bàn với Tuyên và Hòa, sẽ ăn trộm cái mảng nứa của ai đó buộc dưới bến đò để về quê. Cứ xuôi theo dòng nước, chắc chắn sẽ đến Hà Nội rồi từ đó tìm đường về Sơn Tây.
Cuộc trốn chạy bắt đầu. Bữa cơm tối, Trố nấu gia thêm gạo, giấu giếm mấy nắm cơm với muối vừng. Vào khoảng 9 giờ tối, bốn người ra bến đò. Nhưng Hòa bị sâu quảng nặng quá nên không thể đi được, đành ở lại. Cặng và Tuyên hì hục tháo trộm mảng nứa đang neo dưới một gốc cây. Bỗng có tiếng quát: “Đứa nào ăn trộm mảng kia!”, khiến cả bốn đều rụng rời chân tay. Thôi chết rồi!... Nhưng tiếng quát là một giọng đàn bà, có vẻ không gay gắt lắm. Nhận ra bà bán nước chè xanh ở bến, cả bốn quỳ xuống bãi cát kể rõ sự tình và xin bà che chở. Nghe xong, bà bảo: “Thôi, đi thì đi nhanh lên, ông T mà vớ được thì chúng mày rừ xương”. Cuộc chia tay thật ngắn ngủi, Cặng và Tuyên chống sào, buông neo, cái mảng nứa trôi vèo vèo, mất hút trên mặt sông nước lấp lóa, đang chảy xiết dưới ánh trăng lu.
Hai người ngồi trên cái mảng nứa mong manh, mặc cho số phận.Vài giờ sau, xuôi được khoảng hai chục cây số thì bỗng nghe tiếng quát rất đanh từ phía tả ngạn: “Ai kia? Vào bờ ngay, nếu không chúng tôi nổ súng!”. Thôi, thế là hết! Cả hai vội vàng bắt mảng dạt vào bờ. Có mấy người mang súng ống ra “đón”. Cặng và Tuyên run như dẽ. Theo lệnh của họ, hai chàng trai được dẫn vào nhà gặp một ông “quan lớn” có nước da trắng như con gái, trông nét mặt rất nghiêm. Cả hai quỳ sụp xuống, vái lấy vái để: “Chúng con đi làm ăn, nay về quê thăm gia đình, mong quan lớn tha tội chết”. “Ông quan” ấy bảo, các anh không phải quỳ thế, ngồi lên ghế để tôi hỏi chuyện...Mọi việc nhanh chóng được làm sáng tỏ và người ta cho biết, đây là quân đội Việt Minh, bộ đội cụ Hồ, đang có nhiệm vụ đánh bọn Việt Nam quốc dân Đảng để giải phóng quê hương, đất nước. “Các anh hãy dẫn đường cho chúng tôi và nếu đồng ý thì chúng tôi cho gia nhập vào quân đội Việt Minh”. Khỏi phải nói, Cặng và Tuyên đã sung sướng như thế nào trong bối cảnh này. Mãi sau, Ngô Hữu Khôi mới biết, chính cái “ông quan lớn” đẹp trai da trắng như con gái ấy là Trần Long, còn gọi Long Khánh, sau này làm Bí thư huyện ủy Bảo Thắng, Trưởng ty Công an Lào Cai rồi về Trung ương làm Cục trưởng Cục An ninh quốc gia, Bộ Công an... Khôi và Tuyên trở thành Bộ đội Cụ Hồ từ cái đêm “bị bắt” ấy. Đó là Đoàn quân “Vệ quốc đoàn” mà các anh thường nói đùa với nhau là “anh vệ túm”, vì người lính bấy giờ trong điều kiện đất nước còn quá nghèo nàn, gian khổ nên quần áo rách, có người phải lấy dây chuối túm lại... Ngô Hữu Khôi đã quay trở lại đất Gia Phú, tham gia quét sạch tổ chức Việt Nam Quốc dân đảng. Trong cuộc kháng chiến chống Pháp, ông đã tham gia trận Phố Ràng, đánh đồn Phố Lu, tiến tới giải phóng hoàn toàn Lào Cai vào cuối năm 1950, trở thành đảng viên Đảng Lao động Việt Nam. Sau này ông xuất ngũ về địa phương, làm Bí thư, kiêm chủ tịch Ủy ban xã Thái Niên, đặc phái viên Huyện ủy Bảo Thắng rồi cán bộ Ngoại thương...
Nhưng năm 1973, ông Ngô Hữu Khôi bị chính ông B.H, người cầm đầu Việt Nam Quốc dân đảng ở Gia Phú tố cáo ông là Thanh niên Việt Quốc...Căn cứ vào lá đơn này, tổ chức Đảng ở địa phương đã quyết định đưa ông ra khỏi Đảng để “làm trong sạch nội bộ”. Mười ba năm trời đằng đẵng, ông Khôi đã viết hàng chục lá đơn khiếu nại, thu thập ý kiến của các nhân chứng, đặc biệt là xác nhận bằng bút tích của đồng chí Trần Long, Cục trưởng Cục An ninh Quốc gia; xác nhận bằng bút tích của đồng chí Nguyễn Tài Tuyên, trưởng Ty Tài chính tỉnh Hà Sơn Bình, người cùng ông trộm mảng nứa trốn chạy trên sông Hồng ngày nào; xác nhận của bà cụ bán nước chè ở bến đò Gia Phú, nay đã gần đất xa giời và nhiều nhân chứng khác. Tập hồ sơ xin giải oan của ông Khôi có tới mười tám chữ ký của những nhân chứng xác nhận ông không phải là Thanh niên Quốc dân đảng thay vì cho một tờ đơn tố cáo của chính trùm Việt Nam Quốc dân đảng ở địa phương. Thế mới biết, trên đời này mắc sai lầm thì quá dễ dàng, nhưng sửa chữa sai lầm có bao giờ đơn giản! Không ít vụ việc “chìm xuồng”, khiến người trong cuộc phải vĩnh viễn đem theo nỗi oan khuất về thế giới bên kia. Cũng có trường hợp người bị kết tội oan sau khi đã qua hằng chục cái giỗ mới lại may mắn được hóa giải. Sự việc của ông Ngô Hữu Khôi đã kéo dài mười ba năm, ông  đã cơm đùm, cơm vắt, lặn lội gõ hết các “cửa” có thể gõ ở các cấp. Ông đã từng ngồi chờ trước cổng số 10 Nguyễn Cảnh Chân (Hà Nội) để mong gặp được cán bộ cao cấp của Đảng, xin giải oan... Đến năm 1986, tập hồ sơ bản gốc dính đầy mồ hôi của ông được chuyển đến tay tôi. Tôi đã trịnh trọng ký nhận nó như nhận trách nhiệm bảo toàn sinh mạng cho một con người...
Sau khi nghiên cứu kỹ càng, tỉ mỉ từng chi tiết sự việc, tôi đích thân viết tờ trình ra Hội nghị Ban Thường vụ Huyện ủy Bảo Thắng. Tập thể Ban Thường vụ nhận thấy, không chỉ dừng lại ở lý lẽ, ở sự minh bạch của sự việc thông qua các nhân chứng có uy tín, mà còn xét đến phương diện tình người, tình đồng chí trong Đảng. Ban Thường vụ đã nhất trí cao với quan điểm: Sai thì phải sửa dù sự việc đã kéo dài quá lâu. Đảng ta quyết không sợ khuyết điểm. Chính sự nhận ra sai lầm, biết sửa chữa sai lầm sẽ là hành vi chứng minh bản lĩnh chính trị của Đảng, tạo thêm niềm tin yêu của đảng viên, của quần chúng nhân nhân đối với Đảng. Cuối cùng, 11 trên 11 Ủy viên Ban Thường vụ Huyện ủy đã biểu quyết đề nghị Ban Thường vụ Tỉnh ủy Hoàng Liên Sơn khôi phục đảng tịch cho đồng chí Ngô Hữu Khôi. Nghị quyết này đã được chuyển lên Ban Thường vụ tỉnh ủy qua Ban Tổ chức. Một tuần lễ sau, tại Hội nghị toàn thể Ban Thường vụ Tỉnh ủy Hoàng Liên Sơn đã có Nghị quyết: Khôi phục Đảng tịch cho đồng chí Ngô Hữu Khôi, đảng viên thuộc Đảng bộ Phố Lu, huyện Bảo Thắng, tuổi Đảng được tính liên tục từ ngày công nhận chính thức, nhưng chỉ đóng đảng phí kể từ ngày công bố Quyết định tại chi bộ.
Tại Hội nghị Chi bộ Phú Long 1, thị trấn Phố Lu, sau khi đại diện Ban Tổ chức Huyện ủy công bố Quyết định của Ban Thường vụ Tỉnh ủy, ông Ngô Hữu Khôi đã khóc òa lên và nức nở như một đứa trẻ bị mẹ đánh đòn oan. Tiếng khóc của ông khiến hằng chục đảng viên trong chi bộ đều lặng đi và ngấn lệ. Có lẽ mọi người đều hiểu, đằng sau tiếng khóc đó là một niềm vui tột đỉnh xen lẫn sự hờn giận, chất chứa cảm xúc của một người như vừa từ cõi chết trở về.  

                                                                           27/07/2012
                                                                               N.N.D

 

05 tháng 12 2012

NUÔI DƯỠNG VÀ BẢO TỒN VỐN DÂN CA TRÊN QUÊ HƯƠNG BẢO THẮNG


           Huyện Bảo Thắng hiện có tới 68% dân số là người Kinh. Trong số này một phần lớn đồng bào thuộc các tỉnh, thành phố: Hải Phòng, Nam Định, Hà Nam, Thái Bình...được di dân theo chủ trương của Chính phủ, nhằm tăng cường phát triển kinh tế - văn hóa miền núi vào những năm đầu thập kỷ 60 và 70 của thế kỷ trước.
          Cùng với việc bảo tồn và phát triển vốn văn hóa cổ truyền của các dân tộc anh em, thì các làn điệu dân ca của đồng bằng Bắc bộ cũng được bà con bảo tồn, phát triển trên quê hương Bảo Thắng. Đặc biệt là sự phát triển của nghệ thuật hát Chèo và dân ca Quan họ đã được duy trì ở nhiều câu lạc bộ như, câu lạc bộ Hát dân ca thị trấn Phố Lu; câu lạc bộ Hát chèo của xã Xuân Giao, Sơn Hà, thị trấn Tằng Loỏng...
Có thể nói, hát chèo và quan họ là những loại hình sinh hoạt văn hóa nghệ thuật quen thuộc trong kho tàng văn hóa nghệ thuật dân gian dân tộc của người dân Việt Nam từ bao đời nay, nó nuôi dưỡng đời sống tinh thần dân tộc bởi chất trữ tình, đằm thắm và sâu sắc.
          Trong số những người tích cực cho sự gìn giữ và phát triển vốn dân ca ở Bảo Thắng, thì phải kể đến bác Mạnh Hoạch, Trần Thị Nhã - thị trấn Phố Lu; Vợ chồng anh Phạm Minh Toản, chị Bùi Thị Phiến - xã Sơn Hà; bác Lê Xuân Điệp- xã Xuân Giao; Trần Đình Ánh, Phạm Thị Yên - câu lạc bộ Hát chèo thị trấn Tằng Loỏng. Họ đã là những người thắp lên ngọn lửa cho phong trào gìn giữ vốn dân ca trên quê hương mới.         
          Câu lạc bộ hát dân ca thị trấn Phố Lu được coi là cánh chim đầu đàn trong phong trào hát dân ca của huyện Bảo Thắng. Đều đặn vào các tối thứ 5 và chủ nhật hằng tuần, thành viên câu lạc bộ lại họp mặt sinh hoạt tại nhà Văn hóa Trung tâm huyện lỵ. Từ đây, nhiều tiết mục ca ngợi quê hương, đất nước đã được thăng hoa bởi những làn điệu chèo tự biên, tự diễn của các hội viên. Trần Thị Nhã - một người say mê hát chèo ở đất Phố Lu. Từ năm 1976, chị cùng gia đình đi Lào Cai, xây dựng quê hương mới, tuy xa quê hương Sông Châu - Hà Nam, xa ngôi làng có cây đa, bến nước, sân đình để sinh sống nơi núi rừng trùng điệp, với hoa văn thổ cẩm của đồng bào các dân tộc thiểu số, nhưng chưa khi nào chị quên nổi âm thanh, giai điệu của các làn điệu Hát thầm, Đào Liễu, Luyện Năm cung, Quân tử vu dịch. Được sự khích lệ của chồng là anh Nguyễn Văn Sỹ, Chị đã có được những tác phẩm khá hay. Theo nhận xét của ông Nguyễn Ngọc Dương, nguyên Chủ tịch hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Lào Cai, thì “chúng ta không mong ở trần Thị Nhã chất giọng chuyên nghiêp, có kỹ thuật thanh nhạc, nhưng quý trọng ở chị, mặc dù đã bước vào tuổi 56, giọng hát vẫn đằm thắm, nhiệt tình và thủy chung với cội nguồn văn hóa dân tộc”.
          Cùng cảm xúc của những người con trên quê hương mới, luôn hướng về nguồn cội. Chị Bùi Thị Phiến - người con của quê lúa Thái Bình cũng thổ lộ tình yêu quê mới, bằng những điệu hát Chèo và dân ca Quan họ tự biên. Chị đã cùng chồng là anh Phạm Minh Toản ghi một số đĩa CD, trong đó có những đĩa đã được đài Truyền thanh-Truyền hình huyện Bảo Thắng giới thiệu trên chuyên mục văn nghệ cuối tuần.
Mặc dù vùng trung châu và đồng bằng Bắc bộ mới là cái nôi của hát Chèo và hát Quan họ. Nhưng từ cái nôi ấy, sau bao nhiêu thăng trầm của lịch sử, nghệ thuật Chèo và Quan họ ngày càng phát triển, đã khẳng định được tầm quan trọng trong nền văn hóa dân gian của dân tộc Việt Nam.
          Ngày nay, trong xu hướng giao lưu văn hóa mở rộng, thì hát chèo không chỉ còn bó gọn trong khu vực trung châu, đồng bằng, mà đã vượt xa hơn ra nhiều vùng, miền của Tổ Quốc.
          Ở Bảo Thắng, nhu cầu phát triển nghệ thuật hát dân ca, trong đó có hát Chèo và dân ca Quan họ cũng đang ngày càng mở rộng ra địa bàn các xã, thị trấn. Điều đó là rất đáng mừng, bởi bảo tồn và phát triển vốn dân ca là bảo tồn một di sản văn hóa phi vật thể vô cùng quý báu của cha ông; là gìn giữ bản sắc văn hóa cội nguồn của dân tộc.
Tuy nhiên, phong trào truyền bá và bảo tồn nghệ thuật hát dân ca nói chung, hát Chèo và Quan họ - nói riêng ở Bảo Thắng hiện nay mới tập trung ở lớp người trung và cao tuổi. Phải chăng, các đoàn thể như Đoàn thanh niên, Hội phụ nữ, Hội Nông dân và Công đoàn cần phối hợp với các nghệ nhân để việc truyền bá nghệ thuật hát dân ca được đến với lớp trẻ. Đồng thời, cũng cần có sự vào cuộc, hỗ trợ từ phía các ngành chức năng của địa phương để vốn quý văn hóa truyền thống sẽ luôn được trường tồn, phát triển, đúng như quan điểm về “Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” mà Hội nghị Trung ương 5 khóa VIII đã xác định.

                                                                                                                   M.N
                                                                              

THANH NIÊN XUNG PHONG HUYỆN BẢO THẮNG - MỘT BIỂU TƯỢNG TỰ HÀO CỦA TUỔI TRẺ



Nói về thanh niên Việt Nam trong Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh có đoạn viết: “Thanh niên ta có chí tiến thủ”, cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng thì khẳng định rằng: “Thanh niên xung phong là một biểu tượng sáng ngời của thanh niên Việt Nam trong sự nghiệp cách mạng...”. Điều đó đã được chứng minh trong 2 cuộc kháng chiến chống ngoại xâm, lực lượng thanh niên xung phong đã nêu cao tinh thần quyết chiến quyết thắng, góp phần cống hiến quý báu vào thắng lợi huy hoàng, hoàn thành độc lập dân tộc, thống nhất Tổ quốc.
Bước sang giai đoạn đổi mới, trong sự nghiệp chống nghèo nàn, lạc hậu, tiến lên thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Lực lượng thanh niên xung phong đã phát huy sức mạnh vô song, với những hoài bão và bản lĩnh của tuổi trẻ, đi đầu trong việc ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ vào công cuộc phát triển kinh tế - xã hội như, tham gia vào các chương trình, dự án: mở đường giao thông, phủ xanh đất trồng trọt, xây dựng các công trình nước sạch cho nông thôn, ánh sáng văn hoá, dạy nghề, giới thiệu việc làm… Với ý chí và nghị lực, tuổi trẻ đã quyết tâm thực hiện lời dạy của Bác Hồ: “Không có việc gì khó, chỉ sợ lòng không bền, đào núi và lấp biển, quyết chí ắt làm nên”.

          Cùng với tuổi trẻ cả nước, lực lượng thanh niên xung phong huyện Bảo Thắng cũng đã góp phần hiến dâng sức trẻ  cho công cuộc cuộc kháng chiến chống xâm lược, bảo vệ quê hương, bảo vệ chế độ XHCN. Trong những năm 1966-1975, ngoài những thanh niên xung phong vào hỏa tuyến, Bảo Thắng đã có trên 500 thanh niên ưu tú gia nhập lưc lượng TNXP của Tỉnh; đại đội 992 TNXP Bảo Thắng luôn là đơn vị đi đầu trong phong trào TNXP của tỉnh Lào Cai, nhiều công trình trọng đại đã in dấu ấn TNXP Bảo Thắng như đường giao thông Bát Xát, Bắc Hà, Bảo Thắng, Sa Pa, hóa trường Phố Mới, Thủy điện Cốc San, Cầu treo Bảo Nhai và còn được giao trọng trách tham gia các công trình trọng điểm Quốc gia khác...Nay về với đời thường, các cựu thanh niên xung phong hầu hết tuổi đã cao, nhưng trong họ vẫn tràn ngập niềm tự hào và nhiệt huyết của một thời “Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước”.

          Được sự quan tâm của Huyện ủy, sự hỗ trợ tận tình của MTTQ và các tổ chức thành viên, đặc biệt là tổ chức Đoàn Thanh niên Cộng Sản Hồ Chí Minh, năm 2007 Hội Cựu Thanh niên xung phong (TNXP) huyện Bảo Thắng đã được thành lập; đại hội Cựu hội TNXP Huyện lần thứ Nhất vào tháng 11/2007 là một sự kiện quan trọng, đáp ứng nguyện vọng của lực lượng cựu TNXP tiếp tục được cống hiến sức lực và trí tuệ cho sự nghiệp bảo vệ hệ thống chính trị, bảo vệ Đảng và chính quyền. Đồng thời cũng là nơi để các hội viên cựu TNXP giao lưu, trao đổi tình cảm và giúp đỡ lẫn nhau; ôn lại những kỷ niệm vẻ vang, tự hào với truyền thống anh dũng và trao truyền lại nhiệt huyết cho thể hệ trẻ.

          Ngay sau đại hội I, Hội Cựu TNXP huyện Bảo Thắng đã thành lập được 7 tổ chức hội cơ sở và 4 chi hội trực thuộc. Kết nạp được 357 hội viên, trong đó có 27 hội viên là Đảng viên. Nhiều hội viên sau khi hoàn thành nhiệm vụ ở các đội TNXP trở về địa phương còn tiếp tục tham gia công tác, giữ những trọng trách chủ chốt trong các cơ quan Nhà nước và tổ chức chinh trị-xã hội. Và trên cương vị mới, họ lại tiếp tục phát huy vai trò gương mẫu, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ của Đảng và phục vụ nhân dân.

          Không ít hội viên trở lại đời thường, tuy sức khỏe giảm sút vì thương tật hoặc chịu ảnh hưởng bởi chất độc hóa học của Mỹ trên các chiến trường, nhưng họ không hề cam chịu, vẫn cần mẫn vượt qua và trở thành những gương điển hình về sản xuất, “Xóa đói giảm nghèo”, nhiều hội viên đã trở thành những gương sản xuất giỏi, thu nhập hàng trăm triệu đồng/ năm như: cựu TNXP Hà Đình Nhất xã Sơn Hải, Bùi Xuân Biểu xã Bản Cầm. Cựu hội viên TNXP Nguyễn Thị Hạnh ở xã Bản Cầm không chỉ là tấm gương sản xuất giỏi thông qua mô hình trang trại tổng hợp mà còn hỗ trợ, giúp đỡ các đồng đội khác vươn lên xóa nghèo, đồng chí đã đã vinh dự được thay mặt cho cựu TNXP huyện Bảo Thắng dự hội nghị những cựu TNXP làm kinh tế giỏi điền hình Toàn quốc tại Hà Nội năm 2012. Cùng với sự nỗ lực vượt lên số phận, vượt khó, làm giàu thì không ít hội viên cựu TNXP đã bất chấp tuổi cao, sức yếu, tích cực tham gia giáo dục truyền thống và tham gia vào các hoạt động gìn giữ an ninh nông thôn, bảo vệ sự bình yên cho nhân dân.

          Đáng trân trọng hơn, đó là những tấm gương đã hy sinh cho sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc như các liệt sỹ TNXP: Trần Văn Đàm, Lương Văn Ruộng. Nay dù chiến tranh đã lùi xa, nhưng trên mình của nhiều đồng đội cựu TNXP vẫn còn để lại những dấu tích về thương tật, những suy giảm sức khỏe bởi chất độc hóa học ở các chiến trường, nhưng phần lớn họn vẫn phát huy được phẩm chất của người chiến sỹ TNXP; không hài lòng với những biểu hiện công thần, ỉ lại; tích cực tham gia vào các hoạt động đền ơn đáp nghĩa, các hoạt động nghĩa tình đồng đội. Trong nhiệm kỳ 2007-2012 Hội đã quyên góp, tặng được 8 sổ tiết kiệm cho 8 hội viên nghèo; tổ chức thăm hỏi các hội viên cao tuổi, hội viên có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn với trên 170 lượt. Cùng với sự phối hợp của Đoàn TNCS Hồ Chí Minh huyện Bảo Thắng đã vận động quyên góp xây dựng được 01 nhà tình nghĩa cho hội viên La Văn Đán, xã Xuân Giao trị giá 15 triệu đồng. Đại đa số Hội viên cựu TNXP đều phát huy truyền thống “Dũng cảm trong chiến đấu, sáng tạo trong lao động, lập công xuất sắc”; gương mẫu chấp hành các chủ trương, đường lối của Đảng; chính sách, pháp luật của Nhà nước; gương mẫu chấp hành nghiêm các quy ước, hương ước ở khu dân cư... Đó là sự phản ánh kết quả của cuộc vận động cán bộ, hội viên cựu TNXP thực hiện tốt việc “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”; là sự tham gia của Hội với các phong trào thi đua yêu nước ở địa phương.

          Mặc dù mới trải qua 1 nhiệm kỳ hoạt động, song với vai trò là nhân chứng lịch sử, là chỗ dựa tinh thần cho các cựu TNXP, hội Cựu TNXP đã thực sự là người bảo vệ quyền lợi chính đáng cho các Hội viên. Tổ chức hội các cấp đã phối hợp với Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh và ngành Lao động-TBXH xác minh hồ sơ, giải quyết tồn động về chế độ chính sách cho hàng trăm đối tượng; làm thủ tục đề nghị cấp thẻ Bảo hiểm y tế theo Quyết định của Chính phủ cho 128 hội viên cựu TNXP và giải quyết chế độ mai táng phí cho 11 hội viên; tham gia giải quyết hưởng chính sách trợ cấp đối với người bị nhiễm chất độc hóa học và hưởng chế độ thương, bệnh binh cho 42 trường hợp là đối tượng cựu TNXP. 

          Giờ đây những chiến sỹ TNXP năm xưa hầu hết đã tuổi cao, sức yếu, người mất, người còn. Nhưng với tinh thần gương mẫu, họ vẫn luôn đi đầu trong các phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”. Góp phần xây dựng các phong trào “Gia đình, dòng họ hiếu học”; gương mẫu và tích cực vận động nhân dân tham gia chung tay xây dựng “Nông thôn mới” như, làm đường nông thôn, cải tạo vệ sinh môi trường; đấu tranh chống tham nhũng, chống tệ nạn xã hội...

          Hình tượng những chiến sỹ thanh niên xung phong năm xưa xẻ núi, bắc cầu, phá bom nổ chậm, lấp hố mở đường cho xe ra tiền tuyến lại thấp thoáng trong màu áo xanh của thanh niên tình nguyện hôm nay. Đó là sự tiếp nối thế hệ, tựa như: “Măng non ấm bụi tre già, Đời con nối chí đời cha anh hùng”. Ghi nhận công lao của thế hệ đã vì nước quên thân, trong dòng chảy kỷ niệm của một thời máu lửa, chúng tôi xin được khép lại bài viết này bằng khổ thơ của một tác giả “Nhớ về đồng đội”:
“...Các anh mãi là những ánh sao khê
Còn chúng tôi vẫn trong đội ngũ
Nhớ về các anh không bao giờ là đủ
Nghĩa tình này đâu biết đến phôi phai”.

                                                                    Mạnh Nguyên
                                                                    Tháng 11/2012

12 tháng 9 2012

NGẪM VỀ Y ĐỨC QUA LỜI DẠY CỦA HẢI THƯỢNG LÃN ÔNG


         Hải Thượng Lãn Ông tên thật là Lê Hữu Trác (sinh năm 1720, tạ thế năm 1791), quê ở xã Văn Xá, huyện Yên Mỹ, thuộc tỉnh Hưng Yên ngày nay. Sinh thời Hải Thượng Lãn Ông là người thông minh, học cao, hiểu rộng, nhưng Ông đã từ bỏ công danh, phú quý, trở về với đời thường, hành nghề bốc thuốc cứu người. Ông đã để lại cho kho tàng y học cổ truyền Việt Nam một di sản quý báu, với gần 3.000 bài thuốc kinh nghiệm và trên 300 vị thuốc mới có giá trị. Song, điều quý giá hơn là, Ông đã để lại cho nền y học Việt Nam một chuẩn mực đạo đức có giá trị vĩnh hằng.
            Theo Ông, người thầy thuốc mới vào nghề phải say mê, ham học, không ngừng nâng cao trình độ để không thể phạm sai lầm trong chữa bệnh. Thăm bệnh phải ưu tiên bệnh nặng trước, bệnh nhẹ sau, chứ không vì giàu sang hay nghèo hèn mà thăm bệnh, bốc thuốc lại có phần phân biệt. Khi khám bệnh cho người khác giới phải thể hiện tính nghiêm trang đứng đắn; "phải coi họ như con nhà tử tế, dù có đến con hát, nhà thổ cũng vậy". Khuôn mẫu đạo đức người thầy thuốc mà Hải Thượng Lãn Ông đề ra có thể tóm tắt như sau:
            Phận sự của người thầy thuốc là sẵn sàng cứu tính mạng mọi người ở mọi nơi, mọi lúc. Đặc biệt, khi làm nhiệm vụ thường trực thì không được lơ là, mải vui mà quên trách nhiệm. Khi gặp người bệnh cấp cứu phải hết lòng cứu chữa, nhưng cần nói rõ tình trạng bệnh tình cho người nhà bệnh nhân trước khi cho thuốc. Thuốc cấp cứu khi cần có thể cho không người bệnh, thể hiện đầy đủ trách nhiệm của lương y mà bảo đảm hiệu quả tốt cho chữa trị. Phải luôn giữ thái độ khiêm tốn, hòa nhã với đồng nghiệp, nhất là với người cao tuổi. Kính trọng người có học vấn cao và giỏi nghề hơn mình, nhân nhượng trước kẻ kiêu ngạo, tận tình dìu dắt người kém hơn mình - đó mới là hạnh phúc cho người làm nghề thầy thuốc.
Lãnh đạo huyện Bảo Thắng tham gia cho các cháu mầm non uống VitaminA, nhân ngày Vi chất dinh dưỡng
              Người thầy thuốc rất cần có lòng nhân đạo trước con bệnh có hoàn cảnh cơ nhỡ, éo le, rủi ro, bất hạnh. Với các đối tượng này càng nên chăm sóc đặc biệt, ngoài việc cho thuốc, còn thùy theo sức mình chu cấp ăn uống cho họ để việc chạy chữa được hoàn chỉnh. Vì "Ta để tâm một chút, họ được sống một đời...".
              Khi chữa khỏi bệnh rồi, chớ có mưu cầu quà cáp. Vì nghề thầy thuốc là thanh cao, ta phải giữ khí tiết cho trong sạch. Chớ vì những mong muốn tầm thường mà bị người đời khinh rẻ. Khi đêm tối, thời tiết khó khăn, không được vì thế mà bắt bí người bệnh: "Bệnh dễ chữa nói là bệnh khó chữa, bệnh khó chữa nói là không chữa được, dở thói quỷ quyệt ấy để thỏa mãn yêu cầu, rắp tâm như thế là bất lương...Có khác nào đem nhân thuật làm chước lừa dối, đem lòng nhân đổi lấy lòng buôn bán".
             Đã hơn hai trăm năm trôi qua, nhưng những lời dậy ấy vẫn sáng ngời y đức. Vì sự nghiệp chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân, ngày nay những người thầy thuốc của chúng ta còn có thêm lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: "Lương y phải như từ mẫu". Tin tưởng rằng, họ sẽ luôn ghi sâu lời dạy của các bậc tiên hiền để xứng đáng là cháu con của Bác Hồ và hậu duệ nghề y của Hải Thượng Lãn Ông-Lê Hữu Trác.

                                                                                                            Mạnh Nguyên

23 tháng 8 2012

MỘT CỰU CHIẾN BINH-BÍ THƯ CHI BỘ GƯƠNG MẪU VÀ GIẦU NHIỆT HUYẾT


          Cũng như bao thanh niên trưởng thành trong cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc, Cựu chiến binh Trần Xuân Hòa đã có 16 năm đi suốt các chiến trường Quảng trị, Tây Nguyên, Đà Nẵng và tham gia bảo vệ biên giới. Cho đến cuối thập kỷ 80, vì  sức khỏe giảm sút, lại mắc những chứng bệnh đặc thù do ảnh hưởng chất độc “Da cam” của Mỹ ở chiến trường, Anh đành rời quân ngũ với tiêu chuẩn bệnh binh mất sức 63% và ảnh hưởng 84% do chất độc hóa học tại các chiến trường. Nhưng ở người Bệnh binh - Cựu chiến binh này vẫn luôn toát lên sự năng động, lạc quan, lòng nhiệt tình và trách nhiệm trước công việc của dân, của Đảng.
          Tiếp chuyện chúng tôi trong căn nhà mới xây còn ngai ngái mùi xi măng, anh Hòa Tâm sự, có lẽ do tuổi tác lại vừa chịu ảnh hưởng của những năm tháng lăn lộn trên các chiến trường, mấy căn bệnh mãn tính như thấp khớp, Bazơdo cứ luôn hoành hành, nhất là những khi trở trời trái gió. Nhưng còn sức thì phải còn làm việc, cho nên rời quân ngũ, Anh lại tiếp tục tham gia thêm 16 năm công tác cơ sở, với các chức vụ  phó bí thư - Chủ tịch UBND, thường trực Đảng ủy xã. Gần đây được nghỉ công tác ở xã, thì anh lại đảm nhiệm bí thư chi bộ kiêm tổ trưởng tổ Tuyên vận; tổ trưởng tổ vận động xây dựng Nông thôn mới thôn Nam Hải - một thôn điểm về phong trào Nông thôn mới của xã Sơn Hải huyện Bảo Thắng.
          Được biết, đây là một thôn có địa bàn khá rộng, với 217 hộ, dân cư phân tán thành nhiều xóm cho nên việc lãnh đạo, chỉ đạo cũng không ít khó khăn, phức tạp. Nhưng với kinh nghiệm công tác, lòng nhiệt tình và đặc biệt là tinh thần đoàn kết, quy tụ. Bí thư chi bộ Trần Xuân Hòa đã thể hiện được vai trò trung tâm, cùng tập thể chi bộ lãnh đạo, củng cố hệ thống chính trị của thôn với đủ các tổ chức: Chi Đoàn thanh niên, hội Phụ nữ, hội Nông dân, Cựu chiến binh, Chữ thập đỏ...Tạo nên sức mạnh tổng hợp để hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao. Tuy là thôn giáp ranh với thị trấn huyện lỵ, nhưng các năm trước Nam Hải cũng phức tạp về trật tự an ninh. Vì vậy, Chi bộ đã ra nghị quyết chuyên đề, tổ chức tổ an ninh tự quản, trong đó có một số hội viên cựu chiến binh làm hạt nhân. Việc quản lý, giáo dục đối tượng tiêu cực đã được các đoàn thể cùng có trách nhiệm. Vì vậy trong những năm qua không phát sinh thêm đối tượng nghiện ma túy; các tệ nạn xã hội khác mà đối tượng là người của thôn cũng hầu như không có. Riêng đầu năm 2012, trên địa bàn xuất hiện một vụ đánh bạc do người nơi khác đến thực hiện, nhưng trước sự cảnh giác của quần chúng, lực lượng an ninh thôn đã kịp báo cáo lên trên và phối hợp bắt gọn.
Nam Hải cũng là một trong những địa bàn trọng điểm có tuyến đường cao tốc Nội Bài-Lào Cai đi qua. Do xác định được tầm quan trọng của công tác giải phóng mặt bằng, phục vụ công trình trọng điểm quốc gia, chi bộ đã họp, ra nghị quyết và tổ chức để cả hệ thống chính trị cùng vào cuộc. Việc tổ chức vận động quần chúng được làm rất tích cực, vì vậy chỉ trong một thời gian ngắn, 45 hộ dân - trong đó có cả gia đình bí thư chi bộ đã vui vể nhận thống kê đền bù, tự nguyện di chuyển, trao mặt bằng sạch cho ban quản lý dự án đúng tiến độ. Do phát sinh trong quá trình thi công nên lại có thêm 21 hộ không nằm trong kế hoạch giải tỏa ban đầu, tiếp tục phải di chuyển. Nhưng dưới sự lãnh đạo của chi bộ, sự điều hành của chính quyền và công tác tuyên truyền, vận động của các đoàn thể, bà con đã vui vẻ chấp hành chính sách đến bù, tiếp tục trao đất cho Công trình đúng thời gian quy định.
          Về phong trào xây dựng nông thôn mới, với tinh thần thống nhất cao, chi bộ đã ra nghị quyết lãnh đạo. Vì vậy, chỉ trong thời gian ngắn, hầu hết bà con nhân dân trong thôn đã xác định rõ, đây là một cuộc đổi mới mà chính họ là chủ thể. Các công trình xây dựng và cải tạo kết cấu hạ tầng nông thôn được bà con nhiệt tình tham gia, đóng góp công sức, vật tư. Ngay trong năm 2011, thôn Nam Hải đã cơ bản thực hiện xong việc khảo sát điều tra lập kế hoạch và hoàn thành đến 95% khối lượng kiên cố hóa kênh mương, cứng hóa cấp phối thêm 1,5 Km đường giao thông trong thôn. Hiện nay thôn đang tập trung cho một số tiêu chí khác như: “chuẩn về thu nhập”, “xóa nghèo” và tiêu chí “nhà ở của dân cư”.
          Trao đổi cùng chúng tôi, đồng chí Đinh Trường Minh - phó bí thư đảng ủy, chủ tịch UBND xã và đồng chí Nguyến Tiến Toán, phó bí thư thường trực Đảng ủy đều có chung một nhận xét: Phong trào của thôn Nam Hải được khởi sắc, không thể không kể đến vài trò của “Người đứng đầu” là bí thư chi bộ Trần Xuân Hòa. Ở đây đã thực sự phát huy được tinh thần “Cán bộ-đảng viên đi trước; làng nước theo sau”.
          Tiếp xúc với Trần Xuân Hòa, chúng tôi còn có cảm nhận thêm người cựu chiến binh này không chỉ là đức tính cần mẫn, gương mẫu và khiêm nhường, mà anh còn tỏ thái độ không đồng tình với những biểu hiện công thần, đòi hỏi. Anh cho rằng, với những người cùng thế hệ của mình thì việc cống hiến cho sự nghiệp giải phóng Tổ Quốc là lẽ đương nhiên. Chỉ tiếc là, còn biết bao đồng đội đã hy sinh, nhưng hôm nay vẫn chưa tìm được hài cốt hoặc vì một lý do nào đó mà bị mất cả tên trên bia mộ. Còn mình, về được với gia đình, còn được tiếp tục làm việc, cống hiến thì đã là may mắn lắm.
          Vai trò “người đứng đầu” cho dù ở bất kỳ cương vị nào cũng đều có tính quyết định đối với sự thành công của địa phương, đơn vị. Tuy chỉ là một bí thư chi bộ, nhưng với tính gương mẫu, cần cù, trách nhiệm, anh Trần Xuân Hòa đã thực sự nêu gương và xứng đáng là một trong những đại biểu tiêu biểu của huyện Bảo Thắng tham dự lễ mít tinh kỷ niệm 65 năm ngày Thương binh-Liệt sỹ tại Tỉnh Lào Cai và được nhận nhiều hình thức khen thưởng của Đảng, chính quyền trong thời gian qua. 

                                                                                             Mạnh Nguyên

05 tháng 7 2012

KHÔNG RƯỚC HỌA VÀO THÂN VÌ CẢM QUAN KHOÁI KHẨU


Đã nhiều năm qua, tình trạng do ăn tiết canh dẫn đến ngộ độc thực phẩm và lây nhiễm các chứng bệnh nan y luôn được các cơ quan chức năng nhắc nhở, khuyến cáo; các phương tiện thông tin đại chúng cũng thường xuyên cảnh báo, đưa tin về vấn đề này. Tuy nhiên, việc ăn tiết canh bán sẵn, ăn tiết canh qua tự giết mổ hoặc mua tiết sống ở chợ về chế biến tại gia đình vẫn được diễn ra khá sôi động ở nhiều nơi. Cùng với đó là những vụ ngộ độc cũng không hề thuyên giảm.

Mới đây theo thông báo của UBND huyện Bảo Thắng, chỉ trong 6 tháng đầu năm 2012, trên địa bàn Huyện đã xảy ra 3 vụ ngộ độc do ăn tiết canh ngựa tại các thôn Vàng 2 thuộc xã Xuân Giao; Nậm Cút và Na Ó thuộc xã Xuân Quang, làm 22 người mắc ngộ độc phải nhập viện. Rất may, do được cấp cứu kịp thời nên chưa có trường hợp nào tử vong. Điều đáng nói là, những vụ ngộ độc nêu trên hoàn toàn không mới đối với huyện Bảo Thắng. Vì, từ năm 2009 trở lại đây đã có không ít vụ ngộ độc do ăn tiết canh ngựa trên địa bàn, trong đó có vụ lên tới hàng chục người nhập viện.

          Ăn tiết canh sống từ lâu đã là thói quen khoái khẩu của nhiều người. Trước đây người ta chỉ ăn các loại tiết canh lợn, tiết canh chó, tiết canh ngan, vịt. Song, với sự phát triển của y học hiện đại, các chuyên gia y tế đã chứng minh, ăn tiết canh sống luôn là mối hiểm họa, nhiễm nhiều loại bệnh nguy hiểm. Có thể kể đến như: Bệnh liên cầu lợn; bệnh sán dây, sán lá, giun móc, giun tóc, giun chỉ; nhiễm cúm AH5N1 và nhiều loại bệnh nguy hiểm khác có khả năng lây chéo  từ động vật sang người. Từ khi có xuất hiện dịch lợn “Tai xanh” thì tình trạng tử vong cao ở người dùng thực phẩm (tiết canh) còn là do lây nhiễm bệnh Liên cầu trùng từ lợn sang người. Ngoài ra, ăn tiết canh sống cũng có thể nhiễm các bệnh không gây chết người ngay, nhưng để lại hậu quả năng nề với sức khỏe vì những biến chứng ở nội tạng, ở não như, ấu trùng sán lá gan, sán lá phổi và những bệnh về máu, gây ra thiếu máu cấp do giun móc, giun tóc; bệnh gây tắc bạch mạch do giun chỉ .v.v.

Gần đây lại rộ lên trào lưu ăn tiết canh ngựa. Người ta kháo nhau rằng, tiết canh ngựa vừa mát vừa bổ. Cho nên, ở thị trấn Phố Lu mấy năm trước còn có những quán ăn sáng chuyên chế biến tiết canh ngựa, phục vụ cho “Bình minh thực khách”, với những biển quản cáo khá hấp dẫn. Nhưng từ sau mấy vụ ngộ độc đông người vì đã xơi phải thứ “đặc sản” này, thì nhiều quán phải đóng cửa. Theo quy luật, khi có cầu thì ắt sẽ có cung, vì vậy mà tiết ngựa, tiết lợn sống hãm sẵn vẫn được các ông, bà chủ lò mổ chiều khách, cung cấp với phương thức bán không công khai cho bất kỳ ai có nhu cầu. Được biết, hiện nay ngay trên địa bàn giáp gianh với huyện lỵ Bảo Thắng vẫn còn một quán ăn sáng có món “đặc sản” tiết canh ngựa rất ăn khách. Điều này chứng tỏ, dù các phương tiện thông tin luôn cảnh báo, các cơ quan chuyên môn vừa trực tiếp tuyên truyền, vừa đưa ra cả những chế tài nhất định để xử lý hành vi vi phạm quy định An toàn vệ sinh thực phẩm, nhưng vẫn không thắng nổi cảm giác khoái khẩu nhất thời của nhiều thực khách. Chỉ những người ăn xong, ngộ độc rồi mới kịp rút kinh nghiệm – đây là  những bài học đắt giá, thậm chí có khi phải đánh đổi bằng cả tính mạng con người.

Một quan ăn sáng có quảng cáo tiết canh ngựa
          Theo các cơ quan chuyên môn Y tế và Vệ sinh ATTP, phần lớn các vụ ngộ độc tiết canh ngựa là do nhiễm khẩn tụ cầu trùng hoặc nhiễm trực khuẩn Salmonella (San mô nen la). Những vi khuẩn này thường tồn tại trong thiên nhiên, trên da của súc vật bị giết mổ hoặc ở tay người giết mổ nhiễm vào tiết trong quá trình giết mổ gia súc. Đây là những vi khuẩn rất “ái” với môi trường tiết sống. Nếu tiết bị nhiễm khuẩn lại được lưu giữ thời gian nhiều giờ, trong điều nhiệt độ môi trường trên dưới 30oC thì các vi khuẩn này phát triển rất mạnh, vì vậy nhiễm độc do ăn tiết canh ngựa thường gặp ở thời tiết mùa hè. Đối với tụ cầu khuẩn, thời gian ủ bệnh nói chung ngắn, khoảng từ 1 đến 6 giờ, trung bình là 3 giờ. Triệu chứng chủ yếu của ngộ độc tụ cầu là chóng mặt, buồn nôn, rồi nôn mửa dữ dội, đau bụng quặn, đi ỉa chảy và đau đầu; mạch nhanh, nhiệt độ bình thường hoặc hơi sốt do mất nước. Đối với khuẩn Salmonella thì biểu hiện của ngộ độc là tiêu chảy, đau bụng, buồn nôn, nôn, sốt và đau đầu… Triệu chứng thường xuất hiện muộn hơn, vào khoảng từ 12 đến 36 giờ sau khi ăn thực phẩm có nhiễm khuẩn. Các triệu chứng này có thể kéo dài từ 2 ngày đến 1 tuần.

          Như vậy, ăn tiết canh sống là một thói quen rất có hại cho sức khỏe. Từ thói quen này chưa thấy đâu là “mát, bổ”, nhưng năm nào cũng xuất hiện những vụ ngộ độc dẫn đến nhiều người phải nhập viện. Đáng tiếc hơn, đã có không ít trường hợp tử vong do cấp cứu không kịp thời hoặc nhiễm phải Liên cầu trùng lợn, gây trọng bệnh mà tử vong, mặc dù đã được cấp cứu ở Viện các bệnh nhiệt đới quốc gia -  Tuyến cao nhất về xử lý các bệnh truyền nhiễm. 

          Cổ nhân có câu “Miếng ăn quá khẩu thành tàn”. Cho nên, những thứ thực phẩm dù có là món khoái khẩu, nhưng khi đã có cảnh báo từ các cơ quan chức năng; cảnh báo trên các phương tiện thông tin đại chúng về sự nguy hiểm đối với Vệ sinh an toàn thực phẩm thì chúng ta nên tuân thủ, tuyệt đối không sử dụng. Một trong số khẩu hiệu cho tháng hành động vì vệ sinh an toàn thực phẩm năm 2012 là: “Để bảo vệ sức khỏe của bạn và gia đình: Hãy lựa chọn, chế biến và tiêu dùng thực phẩm an toàn!” một lần nữa nhắc chúng ta, không vì những cảm quan, khoái khẩu mà chuốc họa cho bản thân và gia đình.

                                                                                        M.N