Cả Mõ

camoz77.blogspot.com/

15 tháng 1 2013

HỒI SINH


 Nguyễn Ngọc Dương
Tôi biết ông Ngô Hữu Khôi khi ông là cán bộ của Công ty Ngoại thương cấp huyện, bấy giờ được gọi là Công ty Xuất nhập khẩu huyện Bảo Thắng. Ông là đảng viên Đảng Lao động Việt Nam từ đầu những năm năm mươi. Năm 1973, khi thực hiện Chỉ thị của Trung ương về Bảo vệ Đảng, làm Trong sạch nội bộ, ông bị tố cáo năm 1946 từng tham gia Thanh niên Việt Nam Quốc dân đảng phản động. Thế là ông bị đưa ra khỏi Đảng, mặc dù ông theo Việt Minh từ năm 1946. Trong trận Phố Ràng (tháng 6 năm 1949), ông bị thương và sau này hưởng chế độ thương tật hạng 4.
Tháng 9 năm 1986, tôi được chuyển công tác từ Trường Đảng tỉnh Hoàng Liên Sơn về huyện Bảo Thắng để hợp lý hóa gia đình. Biết tôi được bổ sung vào cấp ủy huyện, làm Phó trưởng ban thường trực Ban Tổ chức Huyện ủy, nên một hôm ông Khôi đến nhà riêng bày tỏ sự tình. Ông đặt vấn đề: “Tôi biết anh mới ở tỉnh về, được phân công phụ trách công tác Bảo vệ chính trị nội bộ của Huyện ủy nên hy vọng anh có thể giúp tôi làm sáng tỏ nỗi oan mười ba năm qua được chăng?”... Và ông kể, tôi nghe...Một tối, hai tối, ba tối... Tôi vẫn kiên trì lắng nghe. Ông kể chuyện có duyên, khúc triết, rõ ràng, nhiều chi tiết cuộc sống từ thời tôi chưa ra đời được ông mô tả lại một cách sống động. Có hôm hai chú cháu ngồi đến khi có tiếng gà gáy sang canh...
Nay, tôi chép lại câu chuyện của ông như một kỷ niệm nhỏ trong đời công tác của mình.
Ông Khôi mở đầu câu chuyện: “Sự kiện này đối với tôi còn hơn cái chết, bởi nó bị “bức tử” về sinh mạng chính trị. Tôi theo Đảng từ lúc chưa biết Đảng là ai, chỉ thấy người ta nói Việt Minh, một tổ chức của Cụ Hồ, người đứng đầu Chính Phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa nên tôi theo và đã trực tiếp tham gia chiến đấu nhiều trận, sẵn sàng hy sinh cả tính mạng. Rồi trong Trận Phố Ràng tôi bị thương...  Cho nên khi bị Tổ chức nghi ngờ, loại bỏ, tôi cảm thấy từ giờ phút đó tôi đã chết, chỉ còn lại cái thần xác vô hồn. Như vậy, tôi đã chết mười ba năm rồi, vâng, mười ba năm nhưng chưa chôn được, anh ạ!” Trong ánh đèn dầu vàng vọt giữa đêm khuya, tôi vẫn nhận ra đôi mắt ông đang cố nén xúc động khi chạm phải vết thương lòng còn rỉ máu. Thực ra, mười ba năm trước, nếu không có sự giám sát, động viên tích cực của người vợ hiền thì sau cái Quyết định nghiệt ngã ấy, ông đã về thế giới bên kia rồi, cả thể xác và nỗi oan  của ông đã vùi sâu ba tấc đất và vĩnh viễn không ai biết câu chuyện này.
Vào một đêm cuối thu khi tiết trời đã se lạnh, ông ngồi một mình trước ngọn đèn dầu leo lét trong ngôi nhà gỗ ẩn dưới những hàng nhãn cổ thụ, cạnh con sông Hồng nước cuộn lên, đỏ đọc như máu. Trên bàn là một ấm trà đặc, một bao Tam Đảo, một gói thuốc sâu đủ để hằng chục người có thể rủ nhau đi thăm Diêm Vương. Ông đã quyết định giờ phút hệ trọng nhất của đời mình để khỏi phải hằng ngày dằn vặt, khỏi phải “sống cũng như chết” theo quan niệm của ông!” Sự giằng co giữa sự sống và cái chết của ông lúc ấy là cuộc độc thoại với hai thế lực đối lập: một bên là người vợ hiền và chín đứa con, cả gái lẫn trai mơn mởn như những cây măng, cây tre đang vươn lên ấm bụi..., một bên là sự đau đớn về tinh thần đến tột cùng bởi nỗi oan khiên, không lối thoát, không thể giải thích, mọi đơn từ khiếu nại đều như hòn đất ném xuống ao bèo... Đêm ấy, đến độ 3 giờ sáng ông đã đốt gần hết bao Tam Đảo. “Hai thế lực” cứ giằng nhau từng tấc, từng li... Rồi hình ảnh đồng chí chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra huyện ủy dằn từng tiếng: “Anh làm tay sai cho bọn Việt Quốc, Việt Cách, lại âm mưu chui sâu, leo cao nhằm phá hoại sự nghiệp Cách mạng. Nhưng may, Đảng sáng suốt đã phát hiện sự dối trá của anh, nên chúng tôi buộc phải đưa anh ra khỏi Tổ chức. Anh phải nghiêm chỉnh chấp hành...” Lời kết tội của người đồng chí mỗi câu, mỗi chữ cứ như từng nhát dao đâm nát trái tim ông, trái tim đã mang dòng máu nóng bỏng trước mũi súng kẻ thù trong cuộc kháng chiến trường kỳ của Dân tộc... Ông nghĩ đến người vợ hiền, yêu nhau từ trong cảnh ngộ đi làm thuê, ở đợ, đầu gối, má kề mấy chục năm lên thác, xuống ghềnh. Rồi ông nhớ đến  từng gương mặt của chín người con: nào Phượng, Long, Khoa , nào Vân, Tuyên, Phi, nào Phương, Quyền, Quý, đứa nào cũng ngoan, cũng sáng sủa, học hành giỏi giang... Nhưng tất cả chúng phải chịu một “vết đen” trong lý lịch bởi có ông bố “phản động”! Và tương lai cuộc đời tất sẽ khó “ngóc đầu” lên được! Tình cảm của ông dành cho Đất nước, cho Dân tộc, cho Đảng và Bác Hồ, công lao của ông vào sinh ra tử trong cuộc kháng chiến trường kỳ...tất cả đều công cốc. Ông phải chết, ông không thể sống trong bối cảnh như thế! Trong lồng ngực ông tự dưng có một tảng đá dâng lên chẹn lại sự co bóp của con tim. Trước mắt ông dường như chỉ còn một màu vàng quạch của ngọn đèn hoa kỳ rọi xuống mặt chiếc bàn nước cũ kỹ... Ông từ từ với tay vào gói thuốc sâu, nghiêm trọng mở ra...
Bỗng ông giật mình bởi hai cánh tay vừa ấm vừa mềm ôm ghì lấy toàn thân. Gói thuốc sâu bị hất tung xuống nền nhà. Tiếng khóc của người đàn bà dội lên giữa đêm khuya, trong không gian tĩnh lặng đến rợn người. “Ông Khôi, sao ông lại thế?... Ông không được chết, ông không được chết! Ông phải sống. Ông không thương tôi và các con sao? Mà ông định chết đi để chôn vùi tất cả nỗi oan của mình, sự trong sáng của mình xuống ba tấc đất sao? Ông không muốn để cho đàn con của chúng ta hiểu sự thật về người cha của mình sao? Ông phải sống để tiếp tục khiếu nại, dù đến hơi thở cuối cùng vẫn phải tìm cách cho mọi người biết sự thật. Nếu Tổ chức không biết thì chính con cái chúng ta phải biết. Tôi van ông, ông không được chết!...”  Ông ngồi lặng đi, rồi bất thần quay lại ôm chặt bà và nói trong nước mắt: “Bà ơi, thế này thì tôi chết sao được!... Thôi tôi nghe bà, tôi cảm ơn bà đã làm tôi tỉnh ra rồi. Tôi sẽ sống”. Và ông nói thật với giọng cố pha chút hài hước nhưng cay đắng: “Vậy từ nay bà phải chăm sóc tôi để tôi có sức tiếp tục đi khiếu nại, đòi lại sự công bằng cho gia đình mình nha”...
Năm 1945, Việt Nam Quốc Dân Đảng (Việt Quốc), dưới sự hỗ trợ của quân đội Trung Hoa Dân quốc đã trở về Việt Nam, đánh chiếm Lào Cai và cướp chính quyền ở Sa Pa. Việt Nam Quốc dân đảng đã kiểm soát toàn bộ tỉnh Lào Cai. Sau cuộc chết đói hai triệu người ở đồng bằng Bắc Bộ tháng Ba năm 1945, cuộc sống ở quê Xứ Đoài (Sơn Tây) của Ngô Hữu Khôi vẫn rất khốn khổ. Người gầy gò, nhỏ thó nên mọi người gọi Khôi là “thằng Cặng”. Cặng lên Lào Cai để đi ở chăn trâu, cắt cỏ cho ông chú họ là Ngô Hữu T. tại xã Gia Phú huyện Bảo Thắng. Trong đoạn đời đi ở đợ này, Cặng đã gặp và yêu người con gái thùy mỵ, nết na, có tên Vượng, nhưng dân làng quen gọi cô là “Trố”, cũng là người ở giúp việc trong gia đình ông chú. Ông B.H, người cầm đầu Việt Nam Quốc dân đảng xã Gia Phú thường lui tới nhà ông T. Một hôm, ông B.H đã gọi Cặng lên yêu cầu tham gia vào một tổ chức gọi là Việt Nam Thanh niên Quốc Dân Đảng. Cặng chẳng hiểu gì nhưng cũng lờ mờ thấy đó là một công việc hệ trọng và nguy hiểm. Anh đã thẳng thắn từ chối với lý do: “Cháu mù chữ nên không biết làm gì đâu, chú cứ để cho cháu chăn trâu, cắt cỏ thôi!”...
Cụ Ngô Hữu Khôi - 90 tuổi 
Một buổi tối, Cặng và Trố hẹn nhau ra bãi sông Hồng tâm sự. Vừa gặp Cặng, Trố đã rất nghiêm trọng: “Anh Cặng, có chuyện này quan trọng lắm. Chiều nay, khi xách siêu nước sôi lên pha trà cho chú T và ông B.H, em thấy ông B.H nói là sẽ bắt anh, anh Hòa và anh Tuyên vào tổ chức gì ấy...Ông ấy còn bảo: “Nếu không nghe thì phải bắt!...”. Cặng choáng người khi nghe thấy tiếng “bắt”. Anh thật sự lo sợ... Nhìn dòng sông Hồng chảy xiết, Cặng bỗng nghĩ đến nước phải bỏ trốn về xuôi. Tuy phải xa người yêu, anh sẽ nhớ lắm đây, nhưng phải chạy trốn vụ bắt cóc này đã. Hôm sau anh bàn với Tuyên và Hòa, sẽ ăn trộm cái mảng nứa của ai đó buộc dưới bến đò để về quê. Cứ xuôi theo dòng nước, chắc chắn sẽ đến Hà Nội rồi từ đó tìm đường về Sơn Tây.
Cuộc trốn chạy bắt đầu. Bữa cơm tối, Trố nấu gia thêm gạo, giấu giếm mấy nắm cơm với muối vừng. Vào khoảng 9 giờ tối, bốn người ra bến đò. Nhưng Hòa bị sâu quảng nặng quá nên không thể đi được, đành ở lại. Cặng và Tuyên hì hục tháo trộm mảng nứa đang neo dưới một gốc cây. Bỗng có tiếng quát: “Đứa nào ăn trộm mảng kia!”, khiến cả bốn đều rụng rời chân tay. Thôi chết rồi!... Nhưng tiếng quát là một giọng đàn bà, có vẻ không gay gắt lắm. Nhận ra bà bán nước chè xanh ở bến, cả bốn quỳ xuống bãi cát kể rõ sự tình và xin bà che chở. Nghe xong, bà bảo: “Thôi, đi thì đi nhanh lên, ông T mà vớ được thì chúng mày rừ xương”. Cuộc chia tay thật ngắn ngủi, Cặng và Tuyên chống sào, buông neo, cái mảng nứa trôi vèo vèo, mất hút trên mặt sông nước lấp lóa, đang chảy xiết dưới ánh trăng lu.
Hai người ngồi trên cái mảng nứa mong manh, mặc cho số phận.Vài giờ sau, xuôi được khoảng hai chục cây số thì bỗng nghe tiếng quát rất đanh từ phía tả ngạn: “Ai kia? Vào bờ ngay, nếu không chúng tôi nổ súng!”. Thôi, thế là hết! Cả hai vội vàng bắt mảng dạt vào bờ. Có mấy người mang súng ống ra “đón”. Cặng và Tuyên run như dẽ. Theo lệnh của họ, hai chàng trai được dẫn vào nhà gặp một ông “quan lớn” có nước da trắng như con gái, trông nét mặt rất nghiêm. Cả hai quỳ sụp xuống, vái lấy vái để: “Chúng con đi làm ăn, nay về quê thăm gia đình, mong quan lớn tha tội chết”. “Ông quan” ấy bảo, các anh không phải quỳ thế, ngồi lên ghế để tôi hỏi chuyện...Mọi việc nhanh chóng được làm sáng tỏ và người ta cho biết, đây là quân đội Việt Minh, bộ đội cụ Hồ, đang có nhiệm vụ đánh bọn Việt Nam quốc dân Đảng để giải phóng quê hương, đất nước. “Các anh hãy dẫn đường cho chúng tôi và nếu đồng ý thì chúng tôi cho gia nhập vào quân đội Việt Minh”. Khỏi phải nói, Cặng và Tuyên đã sung sướng như thế nào trong bối cảnh này. Mãi sau, Ngô Hữu Khôi mới biết, chính cái “ông quan lớn” đẹp trai da trắng như con gái ấy là Trần Long, còn gọi Long Khánh, sau này làm Bí thư huyện ủy Bảo Thắng, Trưởng ty Công an Lào Cai rồi về Trung ương làm Cục trưởng Cục An ninh quốc gia, Bộ Công an... Khôi và Tuyên trở thành Bộ đội Cụ Hồ từ cái đêm “bị bắt” ấy. Đó là Đoàn quân “Vệ quốc đoàn” mà các anh thường nói đùa với nhau là “anh vệ túm”, vì người lính bấy giờ trong điều kiện đất nước còn quá nghèo nàn, gian khổ nên quần áo rách, có người phải lấy dây chuối túm lại... Ngô Hữu Khôi đã quay trở lại đất Gia Phú, tham gia quét sạch tổ chức Việt Nam Quốc dân đảng. Trong cuộc kháng chiến chống Pháp, ông đã tham gia trận Phố Ràng, đánh đồn Phố Lu, tiến tới giải phóng hoàn toàn Lào Cai vào cuối năm 1950, trở thành đảng viên Đảng Lao động Việt Nam. Sau này ông xuất ngũ về địa phương, làm Bí thư, kiêm chủ tịch Ủy ban xã Thái Niên, đặc phái viên Huyện ủy Bảo Thắng rồi cán bộ Ngoại thương...
Nhưng năm 1973, ông Ngô Hữu Khôi bị chính ông B.H, người cầm đầu Việt Nam Quốc dân đảng ở Gia Phú tố cáo ông là Thanh niên Việt Quốc...Căn cứ vào lá đơn này, tổ chức Đảng ở địa phương đã quyết định đưa ông ra khỏi Đảng để “làm trong sạch nội bộ”. Mười ba năm trời đằng đẵng, ông Khôi đã viết hàng chục lá đơn khiếu nại, thu thập ý kiến của các nhân chứng, đặc biệt là xác nhận bằng bút tích của đồng chí Trần Long, Cục trưởng Cục An ninh Quốc gia; xác nhận bằng bút tích của đồng chí Nguyễn Tài Tuyên, trưởng Ty Tài chính tỉnh Hà Sơn Bình, người cùng ông trộm mảng nứa trốn chạy trên sông Hồng ngày nào; xác nhận của bà cụ bán nước chè ở bến đò Gia Phú, nay đã gần đất xa giời và nhiều nhân chứng khác. Tập hồ sơ xin giải oan của ông Khôi có tới mười tám chữ ký của những nhân chứng xác nhận ông không phải là Thanh niên Quốc dân đảng thay vì cho một tờ đơn tố cáo của chính trùm Việt Nam Quốc dân đảng ở địa phương. Thế mới biết, trên đời này mắc sai lầm thì quá dễ dàng, nhưng sửa chữa sai lầm có bao giờ đơn giản! Không ít vụ việc “chìm xuồng”, khiến người trong cuộc phải vĩnh viễn đem theo nỗi oan khuất về thế giới bên kia. Cũng có trường hợp người bị kết tội oan sau khi đã qua hằng chục cái giỗ mới lại may mắn được hóa giải. Sự việc của ông Ngô Hữu Khôi đã kéo dài mười ba năm, ông  đã cơm đùm, cơm vắt, lặn lội gõ hết các “cửa” có thể gõ ở các cấp. Ông đã từng ngồi chờ trước cổng số 10 Nguyễn Cảnh Chân (Hà Nội) để mong gặp được cán bộ cao cấp của Đảng, xin giải oan... Đến năm 1986, tập hồ sơ bản gốc dính đầy mồ hôi của ông được chuyển đến tay tôi. Tôi đã trịnh trọng ký nhận nó như nhận trách nhiệm bảo toàn sinh mạng cho một con người...
Sau khi nghiên cứu kỹ càng, tỉ mỉ từng chi tiết sự việc, tôi đích thân viết tờ trình ra Hội nghị Ban Thường vụ Huyện ủy Bảo Thắng. Tập thể Ban Thường vụ nhận thấy, không chỉ dừng lại ở lý lẽ, ở sự minh bạch của sự việc thông qua các nhân chứng có uy tín, mà còn xét đến phương diện tình người, tình đồng chí trong Đảng. Ban Thường vụ đã nhất trí cao với quan điểm: Sai thì phải sửa dù sự việc đã kéo dài quá lâu. Đảng ta quyết không sợ khuyết điểm. Chính sự nhận ra sai lầm, biết sửa chữa sai lầm sẽ là hành vi chứng minh bản lĩnh chính trị của Đảng, tạo thêm niềm tin yêu của đảng viên, của quần chúng nhân nhân đối với Đảng. Cuối cùng, 11 trên 11 Ủy viên Ban Thường vụ Huyện ủy đã biểu quyết đề nghị Ban Thường vụ Tỉnh ủy Hoàng Liên Sơn khôi phục đảng tịch cho đồng chí Ngô Hữu Khôi. Nghị quyết này đã được chuyển lên Ban Thường vụ tỉnh ủy qua Ban Tổ chức. Một tuần lễ sau, tại Hội nghị toàn thể Ban Thường vụ Tỉnh ủy Hoàng Liên Sơn đã có Nghị quyết: Khôi phục Đảng tịch cho đồng chí Ngô Hữu Khôi, đảng viên thuộc Đảng bộ Phố Lu, huyện Bảo Thắng, tuổi Đảng được tính liên tục từ ngày công nhận chính thức, nhưng chỉ đóng đảng phí kể từ ngày công bố Quyết định tại chi bộ.
Tại Hội nghị Chi bộ Phú Long 1, thị trấn Phố Lu, sau khi đại diện Ban Tổ chức Huyện ủy công bố Quyết định của Ban Thường vụ Tỉnh ủy, ông Ngô Hữu Khôi đã khóc òa lên và nức nở như một đứa trẻ bị mẹ đánh đòn oan. Tiếng khóc của ông khiến hằng chục đảng viên trong chi bộ đều lặng đi và ngấn lệ. Có lẽ mọi người đều hiểu, đằng sau tiếng khóc đó là một niềm vui tột đỉnh xen lẫn sự hờn giận, chất chứa cảm xúc của một người như vừa từ cõi chết trở về.  

                                                                           27/07/2012
                                                                               N.N.D

 

05 tháng 12 2012

NUÔI DƯỠNG VÀ BẢO TỒN VỐN DÂN CA TRÊN QUÊ HƯƠNG BẢO THẮNG


           Huyện Bảo Thắng hiện có tới 68% dân số là người Kinh. Trong số này một phần lớn đồng bào thuộc các tỉnh, thành phố: Hải Phòng, Nam Định, Hà Nam, Thái Bình...được di dân theo chủ trương của Chính phủ, nhằm tăng cường phát triển kinh tế - văn hóa miền núi vào những năm đầu thập kỷ 60 và 70 của thế kỷ trước.
          Cùng với việc bảo tồn và phát triển vốn văn hóa cổ truyền của các dân tộc anh em, thì các làn điệu dân ca của đồng bằng Bắc bộ cũng được bà con bảo tồn, phát triển trên quê hương Bảo Thắng. Đặc biệt là sự phát triển của nghệ thuật hát Chèo và dân ca Quan họ đã được duy trì ở nhiều câu lạc bộ như, câu lạc bộ Hát dân ca thị trấn Phố Lu; câu lạc bộ Hát chèo của xã Xuân Giao, Sơn Hà, thị trấn Tằng Loỏng...
Có thể nói, hát chèo và quan họ là những loại hình sinh hoạt văn hóa nghệ thuật quen thuộc trong kho tàng văn hóa nghệ thuật dân gian dân tộc của người dân Việt Nam từ bao đời nay, nó nuôi dưỡng đời sống tinh thần dân tộc bởi chất trữ tình, đằm thắm và sâu sắc.
          Trong số những người tích cực cho sự gìn giữ và phát triển vốn dân ca ở Bảo Thắng, thì phải kể đến bác Mạnh Hoạch, Trần Thị Nhã - thị trấn Phố Lu; Vợ chồng anh Phạm Minh Toản, chị Bùi Thị Phiến - xã Sơn Hà; bác Lê Xuân Điệp- xã Xuân Giao; Trần Đình Ánh, Phạm Thị Yên - câu lạc bộ Hát chèo thị trấn Tằng Loỏng. Họ đã là những người thắp lên ngọn lửa cho phong trào gìn giữ vốn dân ca trên quê hương mới.         
          Câu lạc bộ hát dân ca thị trấn Phố Lu được coi là cánh chim đầu đàn trong phong trào hát dân ca của huyện Bảo Thắng. Đều đặn vào các tối thứ 5 và chủ nhật hằng tuần, thành viên câu lạc bộ lại họp mặt sinh hoạt tại nhà Văn hóa Trung tâm huyện lỵ. Từ đây, nhiều tiết mục ca ngợi quê hương, đất nước đã được thăng hoa bởi những làn điệu chèo tự biên, tự diễn của các hội viên. Trần Thị Nhã - một người say mê hát chèo ở đất Phố Lu. Từ năm 1976, chị cùng gia đình đi Lào Cai, xây dựng quê hương mới, tuy xa quê hương Sông Châu - Hà Nam, xa ngôi làng có cây đa, bến nước, sân đình để sinh sống nơi núi rừng trùng điệp, với hoa văn thổ cẩm của đồng bào các dân tộc thiểu số, nhưng chưa khi nào chị quên nổi âm thanh, giai điệu của các làn điệu Hát thầm, Đào Liễu, Luyện Năm cung, Quân tử vu dịch. Được sự khích lệ của chồng là anh Nguyễn Văn Sỹ, Chị đã có được những tác phẩm khá hay. Theo nhận xét của ông Nguyễn Ngọc Dương, nguyên Chủ tịch hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Lào Cai, thì “chúng ta không mong ở trần Thị Nhã chất giọng chuyên nghiêp, có kỹ thuật thanh nhạc, nhưng quý trọng ở chị, mặc dù đã bước vào tuổi 56, giọng hát vẫn đằm thắm, nhiệt tình và thủy chung với cội nguồn văn hóa dân tộc”.
          Cùng cảm xúc của những người con trên quê hương mới, luôn hướng về nguồn cội. Chị Bùi Thị Phiến - người con của quê lúa Thái Bình cũng thổ lộ tình yêu quê mới, bằng những điệu hát Chèo và dân ca Quan họ tự biên. Chị đã cùng chồng là anh Phạm Minh Toản ghi một số đĩa CD, trong đó có những đĩa đã được đài Truyền thanh-Truyền hình huyện Bảo Thắng giới thiệu trên chuyên mục văn nghệ cuối tuần.
Mặc dù vùng trung châu và đồng bằng Bắc bộ mới là cái nôi của hát Chèo và hát Quan họ. Nhưng từ cái nôi ấy, sau bao nhiêu thăng trầm của lịch sử, nghệ thuật Chèo và Quan họ ngày càng phát triển, đã khẳng định được tầm quan trọng trong nền văn hóa dân gian của dân tộc Việt Nam.
          Ngày nay, trong xu hướng giao lưu văn hóa mở rộng, thì hát chèo không chỉ còn bó gọn trong khu vực trung châu, đồng bằng, mà đã vượt xa hơn ra nhiều vùng, miền của Tổ Quốc.
          Ở Bảo Thắng, nhu cầu phát triển nghệ thuật hát dân ca, trong đó có hát Chèo và dân ca Quan họ cũng đang ngày càng mở rộng ra địa bàn các xã, thị trấn. Điều đó là rất đáng mừng, bởi bảo tồn và phát triển vốn dân ca là bảo tồn một di sản văn hóa phi vật thể vô cùng quý báu của cha ông; là gìn giữ bản sắc văn hóa cội nguồn của dân tộc.
Tuy nhiên, phong trào truyền bá và bảo tồn nghệ thuật hát dân ca nói chung, hát Chèo và Quan họ - nói riêng ở Bảo Thắng hiện nay mới tập trung ở lớp người trung và cao tuổi. Phải chăng, các đoàn thể như Đoàn thanh niên, Hội phụ nữ, Hội Nông dân và Công đoàn cần phối hợp với các nghệ nhân để việc truyền bá nghệ thuật hát dân ca được đến với lớp trẻ. Đồng thời, cũng cần có sự vào cuộc, hỗ trợ từ phía các ngành chức năng của địa phương để vốn quý văn hóa truyền thống sẽ luôn được trường tồn, phát triển, đúng như quan điểm về “Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” mà Hội nghị Trung ương 5 khóa VIII đã xác định.

                                                                                                                   M.N
                                                                              

THANH NIÊN XUNG PHONG HUYỆN BẢO THẮNG - MỘT BIỂU TƯỢNG TỰ HÀO CỦA TUỔI TRẺ



Nói về thanh niên Việt Nam trong Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh có đoạn viết: “Thanh niên ta có chí tiến thủ”, cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng thì khẳng định rằng: “Thanh niên xung phong là một biểu tượng sáng ngời của thanh niên Việt Nam trong sự nghiệp cách mạng...”. Điều đó đã được chứng minh trong 2 cuộc kháng chiến chống ngoại xâm, lực lượng thanh niên xung phong đã nêu cao tinh thần quyết chiến quyết thắng, góp phần cống hiến quý báu vào thắng lợi huy hoàng, hoàn thành độc lập dân tộc, thống nhất Tổ quốc.
Bước sang giai đoạn đổi mới, trong sự nghiệp chống nghèo nàn, lạc hậu, tiến lên thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Lực lượng thanh niên xung phong đã phát huy sức mạnh vô song, với những hoài bão và bản lĩnh của tuổi trẻ, đi đầu trong việc ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ vào công cuộc phát triển kinh tế - xã hội như, tham gia vào các chương trình, dự án: mở đường giao thông, phủ xanh đất trồng trọt, xây dựng các công trình nước sạch cho nông thôn, ánh sáng văn hoá, dạy nghề, giới thiệu việc làm… Với ý chí và nghị lực, tuổi trẻ đã quyết tâm thực hiện lời dạy của Bác Hồ: “Không có việc gì khó, chỉ sợ lòng không bền, đào núi và lấp biển, quyết chí ắt làm nên”.

          Cùng với tuổi trẻ cả nước, lực lượng thanh niên xung phong huyện Bảo Thắng cũng đã góp phần hiến dâng sức trẻ  cho công cuộc cuộc kháng chiến chống xâm lược, bảo vệ quê hương, bảo vệ chế độ XHCN. Trong những năm 1966-1975, ngoài những thanh niên xung phong vào hỏa tuyến, Bảo Thắng đã có trên 500 thanh niên ưu tú gia nhập lưc lượng TNXP của Tỉnh; đại đội 992 TNXP Bảo Thắng luôn là đơn vị đi đầu trong phong trào TNXP của tỉnh Lào Cai, nhiều công trình trọng đại đã in dấu ấn TNXP Bảo Thắng như đường giao thông Bát Xát, Bắc Hà, Bảo Thắng, Sa Pa, hóa trường Phố Mới, Thủy điện Cốc San, Cầu treo Bảo Nhai và còn được giao trọng trách tham gia các công trình trọng điểm Quốc gia khác...Nay về với đời thường, các cựu thanh niên xung phong hầu hết tuổi đã cao, nhưng trong họ vẫn tràn ngập niềm tự hào và nhiệt huyết của một thời “Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước”.

          Được sự quan tâm của Huyện ủy, sự hỗ trợ tận tình của MTTQ và các tổ chức thành viên, đặc biệt là tổ chức Đoàn Thanh niên Cộng Sản Hồ Chí Minh, năm 2007 Hội Cựu Thanh niên xung phong (TNXP) huyện Bảo Thắng đã được thành lập; đại hội Cựu hội TNXP Huyện lần thứ Nhất vào tháng 11/2007 là một sự kiện quan trọng, đáp ứng nguyện vọng của lực lượng cựu TNXP tiếp tục được cống hiến sức lực và trí tuệ cho sự nghiệp bảo vệ hệ thống chính trị, bảo vệ Đảng và chính quyền. Đồng thời cũng là nơi để các hội viên cựu TNXP giao lưu, trao đổi tình cảm và giúp đỡ lẫn nhau; ôn lại những kỷ niệm vẻ vang, tự hào với truyền thống anh dũng và trao truyền lại nhiệt huyết cho thể hệ trẻ.

          Ngay sau đại hội I, Hội Cựu TNXP huyện Bảo Thắng đã thành lập được 7 tổ chức hội cơ sở và 4 chi hội trực thuộc. Kết nạp được 357 hội viên, trong đó có 27 hội viên là Đảng viên. Nhiều hội viên sau khi hoàn thành nhiệm vụ ở các đội TNXP trở về địa phương còn tiếp tục tham gia công tác, giữ những trọng trách chủ chốt trong các cơ quan Nhà nước và tổ chức chinh trị-xã hội. Và trên cương vị mới, họ lại tiếp tục phát huy vai trò gương mẫu, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ của Đảng và phục vụ nhân dân.

          Không ít hội viên trở lại đời thường, tuy sức khỏe giảm sút vì thương tật hoặc chịu ảnh hưởng bởi chất độc hóa học của Mỹ trên các chiến trường, nhưng họ không hề cam chịu, vẫn cần mẫn vượt qua và trở thành những gương điển hình về sản xuất, “Xóa đói giảm nghèo”, nhiều hội viên đã trở thành những gương sản xuất giỏi, thu nhập hàng trăm triệu đồng/ năm như: cựu TNXP Hà Đình Nhất xã Sơn Hải, Bùi Xuân Biểu xã Bản Cầm. Cựu hội viên TNXP Nguyễn Thị Hạnh ở xã Bản Cầm không chỉ là tấm gương sản xuất giỏi thông qua mô hình trang trại tổng hợp mà còn hỗ trợ, giúp đỡ các đồng đội khác vươn lên xóa nghèo, đồng chí đã đã vinh dự được thay mặt cho cựu TNXP huyện Bảo Thắng dự hội nghị những cựu TNXP làm kinh tế giỏi điền hình Toàn quốc tại Hà Nội năm 2012. Cùng với sự nỗ lực vượt lên số phận, vượt khó, làm giàu thì không ít hội viên cựu TNXP đã bất chấp tuổi cao, sức yếu, tích cực tham gia giáo dục truyền thống và tham gia vào các hoạt động gìn giữ an ninh nông thôn, bảo vệ sự bình yên cho nhân dân.

          Đáng trân trọng hơn, đó là những tấm gương đã hy sinh cho sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc như các liệt sỹ TNXP: Trần Văn Đàm, Lương Văn Ruộng. Nay dù chiến tranh đã lùi xa, nhưng trên mình của nhiều đồng đội cựu TNXP vẫn còn để lại những dấu tích về thương tật, những suy giảm sức khỏe bởi chất độc hóa học ở các chiến trường, nhưng phần lớn họn vẫn phát huy được phẩm chất của người chiến sỹ TNXP; không hài lòng với những biểu hiện công thần, ỉ lại; tích cực tham gia vào các hoạt động đền ơn đáp nghĩa, các hoạt động nghĩa tình đồng đội. Trong nhiệm kỳ 2007-2012 Hội đã quyên góp, tặng được 8 sổ tiết kiệm cho 8 hội viên nghèo; tổ chức thăm hỏi các hội viên cao tuổi, hội viên có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn với trên 170 lượt. Cùng với sự phối hợp của Đoàn TNCS Hồ Chí Minh huyện Bảo Thắng đã vận động quyên góp xây dựng được 01 nhà tình nghĩa cho hội viên La Văn Đán, xã Xuân Giao trị giá 15 triệu đồng. Đại đa số Hội viên cựu TNXP đều phát huy truyền thống “Dũng cảm trong chiến đấu, sáng tạo trong lao động, lập công xuất sắc”; gương mẫu chấp hành các chủ trương, đường lối của Đảng; chính sách, pháp luật của Nhà nước; gương mẫu chấp hành nghiêm các quy ước, hương ước ở khu dân cư... Đó là sự phản ánh kết quả của cuộc vận động cán bộ, hội viên cựu TNXP thực hiện tốt việc “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”; là sự tham gia của Hội với các phong trào thi đua yêu nước ở địa phương.

          Mặc dù mới trải qua 1 nhiệm kỳ hoạt động, song với vai trò là nhân chứng lịch sử, là chỗ dựa tinh thần cho các cựu TNXP, hội Cựu TNXP đã thực sự là người bảo vệ quyền lợi chính đáng cho các Hội viên. Tổ chức hội các cấp đã phối hợp với Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh và ngành Lao động-TBXH xác minh hồ sơ, giải quyết tồn động về chế độ chính sách cho hàng trăm đối tượng; làm thủ tục đề nghị cấp thẻ Bảo hiểm y tế theo Quyết định của Chính phủ cho 128 hội viên cựu TNXP và giải quyết chế độ mai táng phí cho 11 hội viên; tham gia giải quyết hưởng chính sách trợ cấp đối với người bị nhiễm chất độc hóa học và hưởng chế độ thương, bệnh binh cho 42 trường hợp là đối tượng cựu TNXP. 

          Giờ đây những chiến sỹ TNXP năm xưa hầu hết đã tuổi cao, sức yếu, người mất, người còn. Nhưng với tinh thần gương mẫu, họ vẫn luôn đi đầu trong các phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”. Góp phần xây dựng các phong trào “Gia đình, dòng họ hiếu học”; gương mẫu và tích cực vận động nhân dân tham gia chung tay xây dựng “Nông thôn mới” như, làm đường nông thôn, cải tạo vệ sinh môi trường; đấu tranh chống tham nhũng, chống tệ nạn xã hội...

          Hình tượng những chiến sỹ thanh niên xung phong năm xưa xẻ núi, bắc cầu, phá bom nổ chậm, lấp hố mở đường cho xe ra tiền tuyến lại thấp thoáng trong màu áo xanh của thanh niên tình nguyện hôm nay. Đó là sự tiếp nối thế hệ, tựa như: “Măng non ấm bụi tre già, Đời con nối chí đời cha anh hùng”. Ghi nhận công lao của thế hệ đã vì nước quên thân, trong dòng chảy kỷ niệm của một thời máu lửa, chúng tôi xin được khép lại bài viết này bằng khổ thơ của một tác giả “Nhớ về đồng đội”:
“...Các anh mãi là những ánh sao khê
Còn chúng tôi vẫn trong đội ngũ
Nhớ về các anh không bao giờ là đủ
Nghĩa tình này đâu biết đến phôi phai”.

                                                                    Mạnh Nguyên
                                                                    Tháng 11/2012

12 tháng 9 2012

NGẪM VỀ Y ĐỨC QUA LỜI DẠY CỦA HẢI THƯỢNG LÃN ÔNG


         Hải Thượng Lãn Ông tên thật là Lê Hữu Trác (sinh năm 1720, tạ thế năm 1791), quê ở xã Văn Xá, huyện Yên Mỹ, thuộc tỉnh Hưng Yên ngày nay. Sinh thời Hải Thượng Lãn Ông là người thông minh, học cao, hiểu rộng, nhưng Ông đã từ bỏ công danh, phú quý, trở về với đời thường, hành nghề bốc thuốc cứu người. Ông đã để lại cho kho tàng y học cổ truyền Việt Nam một di sản quý báu, với gần 3.000 bài thuốc kinh nghiệm và trên 300 vị thuốc mới có giá trị. Song, điều quý giá hơn là, Ông đã để lại cho nền y học Việt Nam một chuẩn mực đạo đức có giá trị vĩnh hằng.
            Theo Ông, người thầy thuốc mới vào nghề phải say mê, ham học, không ngừng nâng cao trình độ để không thể phạm sai lầm trong chữa bệnh. Thăm bệnh phải ưu tiên bệnh nặng trước, bệnh nhẹ sau, chứ không vì giàu sang hay nghèo hèn mà thăm bệnh, bốc thuốc lại có phần phân biệt. Khi khám bệnh cho người khác giới phải thể hiện tính nghiêm trang đứng đắn; "phải coi họ như con nhà tử tế, dù có đến con hát, nhà thổ cũng vậy". Khuôn mẫu đạo đức người thầy thuốc mà Hải Thượng Lãn Ông đề ra có thể tóm tắt như sau:
            Phận sự của người thầy thuốc là sẵn sàng cứu tính mạng mọi người ở mọi nơi, mọi lúc. Đặc biệt, khi làm nhiệm vụ thường trực thì không được lơ là, mải vui mà quên trách nhiệm. Khi gặp người bệnh cấp cứu phải hết lòng cứu chữa, nhưng cần nói rõ tình trạng bệnh tình cho người nhà bệnh nhân trước khi cho thuốc. Thuốc cấp cứu khi cần có thể cho không người bệnh, thể hiện đầy đủ trách nhiệm của lương y mà bảo đảm hiệu quả tốt cho chữa trị. Phải luôn giữ thái độ khiêm tốn, hòa nhã với đồng nghiệp, nhất là với người cao tuổi. Kính trọng người có học vấn cao và giỏi nghề hơn mình, nhân nhượng trước kẻ kiêu ngạo, tận tình dìu dắt người kém hơn mình - đó mới là hạnh phúc cho người làm nghề thầy thuốc.
Lãnh đạo huyện Bảo Thắng tham gia cho các cháu mầm non uống VitaminA, nhân ngày Vi chất dinh dưỡng
              Người thầy thuốc rất cần có lòng nhân đạo trước con bệnh có hoàn cảnh cơ nhỡ, éo le, rủi ro, bất hạnh. Với các đối tượng này càng nên chăm sóc đặc biệt, ngoài việc cho thuốc, còn thùy theo sức mình chu cấp ăn uống cho họ để việc chạy chữa được hoàn chỉnh. Vì "Ta để tâm một chút, họ được sống một đời...".
              Khi chữa khỏi bệnh rồi, chớ có mưu cầu quà cáp. Vì nghề thầy thuốc là thanh cao, ta phải giữ khí tiết cho trong sạch. Chớ vì những mong muốn tầm thường mà bị người đời khinh rẻ. Khi đêm tối, thời tiết khó khăn, không được vì thế mà bắt bí người bệnh: "Bệnh dễ chữa nói là bệnh khó chữa, bệnh khó chữa nói là không chữa được, dở thói quỷ quyệt ấy để thỏa mãn yêu cầu, rắp tâm như thế là bất lương...Có khác nào đem nhân thuật làm chước lừa dối, đem lòng nhân đổi lấy lòng buôn bán".
             Đã hơn hai trăm năm trôi qua, nhưng những lời dậy ấy vẫn sáng ngời y đức. Vì sự nghiệp chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân, ngày nay những người thầy thuốc của chúng ta còn có thêm lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: "Lương y phải như từ mẫu". Tin tưởng rằng, họ sẽ luôn ghi sâu lời dạy của các bậc tiên hiền để xứng đáng là cháu con của Bác Hồ và hậu duệ nghề y của Hải Thượng Lãn Ông-Lê Hữu Trác.

                                                                                                            Mạnh Nguyên

23 tháng 8 2012

MỘT CỰU CHIẾN BINH-BÍ THƯ CHI BỘ GƯƠNG MẪU VÀ GIẦU NHIỆT HUYẾT


          Cũng như bao thanh niên trưởng thành trong cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc, Cựu chiến binh Trần Xuân Hòa đã có 16 năm đi suốt các chiến trường Quảng trị, Tây Nguyên, Đà Nẵng và tham gia bảo vệ biên giới. Cho đến cuối thập kỷ 80, vì  sức khỏe giảm sút, lại mắc những chứng bệnh đặc thù do ảnh hưởng chất độc “Da cam” của Mỹ ở chiến trường, Anh đành rời quân ngũ với tiêu chuẩn bệnh binh mất sức 63% và ảnh hưởng 84% do chất độc hóa học tại các chiến trường. Nhưng ở người Bệnh binh - Cựu chiến binh này vẫn luôn toát lên sự năng động, lạc quan, lòng nhiệt tình và trách nhiệm trước công việc của dân, của Đảng.
          Tiếp chuyện chúng tôi trong căn nhà mới xây còn ngai ngái mùi xi măng, anh Hòa Tâm sự, có lẽ do tuổi tác lại vừa chịu ảnh hưởng của những năm tháng lăn lộn trên các chiến trường, mấy căn bệnh mãn tính như thấp khớp, Bazơdo cứ luôn hoành hành, nhất là những khi trở trời trái gió. Nhưng còn sức thì phải còn làm việc, cho nên rời quân ngũ, Anh lại tiếp tục tham gia thêm 16 năm công tác cơ sở, với các chức vụ  phó bí thư - Chủ tịch UBND, thường trực Đảng ủy xã. Gần đây được nghỉ công tác ở xã, thì anh lại đảm nhiệm bí thư chi bộ kiêm tổ trưởng tổ Tuyên vận; tổ trưởng tổ vận động xây dựng Nông thôn mới thôn Nam Hải - một thôn điểm về phong trào Nông thôn mới của xã Sơn Hải huyện Bảo Thắng.
          Được biết, đây là một thôn có địa bàn khá rộng, với 217 hộ, dân cư phân tán thành nhiều xóm cho nên việc lãnh đạo, chỉ đạo cũng không ít khó khăn, phức tạp. Nhưng với kinh nghiệm công tác, lòng nhiệt tình và đặc biệt là tinh thần đoàn kết, quy tụ. Bí thư chi bộ Trần Xuân Hòa đã thể hiện được vai trò trung tâm, cùng tập thể chi bộ lãnh đạo, củng cố hệ thống chính trị của thôn với đủ các tổ chức: Chi Đoàn thanh niên, hội Phụ nữ, hội Nông dân, Cựu chiến binh, Chữ thập đỏ...Tạo nên sức mạnh tổng hợp để hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao. Tuy là thôn giáp ranh với thị trấn huyện lỵ, nhưng các năm trước Nam Hải cũng phức tạp về trật tự an ninh. Vì vậy, Chi bộ đã ra nghị quyết chuyên đề, tổ chức tổ an ninh tự quản, trong đó có một số hội viên cựu chiến binh làm hạt nhân. Việc quản lý, giáo dục đối tượng tiêu cực đã được các đoàn thể cùng có trách nhiệm. Vì vậy trong những năm qua không phát sinh thêm đối tượng nghiện ma túy; các tệ nạn xã hội khác mà đối tượng là người của thôn cũng hầu như không có. Riêng đầu năm 2012, trên địa bàn xuất hiện một vụ đánh bạc do người nơi khác đến thực hiện, nhưng trước sự cảnh giác của quần chúng, lực lượng an ninh thôn đã kịp báo cáo lên trên và phối hợp bắt gọn.
Nam Hải cũng là một trong những địa bàn trọng điểm có tuyến đường cao tốc Nội Bài-Lào Cai đi qua. Do xác định được tầm quan trọng của công tác giải phóng mặt bằng, phục vụ công trình trọng điểm quốc gia, chi bộ đã họp, ra nghị quyết và tổ chức để cả hệ thống chính trị cùng vào cuộc. Việc tổ chức vận động quần chúng được làm rất tích cực, vì vậy chỉ trong một thời gian ngắn, 45 hộ dân - trong đó có cả gia đình bí thư chi bộ đã vui vể nhận thống kê đền bù, tự nguyện di chuyển, trao mặt bằng sạch cho ban quản lý dự án đúng tiến độ. Do phát sinh trong quá trình thi công nên lại có thêm 21 hộ không nằm trong kế hoạch giải tỏa ban đầu, tiếp tục phải di chuyển. Nhưng dưới sự lãnh đạo của chi bộ, sự điều hành của chính quyền và công tác tuyên truyền, vận động của các đoàn thể, bà con đã vui vẻ chấp hành chính sách đến bù, tiếp tục trao đất cho Công trình đúng thời gian quy định.
          Về phong trào xây dựng nông thôn mới, với tinh thần thống nhất cao, chi bộ đã ra nghị quyết lãnh đạo. Vì vậy, chỉ trong thời gian ngắn, hầu hết bà con nhân dân trong thôn đã xác định rõ, đây là một cuộc đổi mới mà chính họ là chủ thể. Các công trình xây dựng và cải tạo kết cấu hạ tầng nông thôn được bà con nhiệt tình tham gia, đóng góp công sức, vật tư. Ngay trong năm 2011, thôn Nam Hải đã cơ bản thực hiện xong việc khảo sát điều tra lập kế hoạch và hoàn thành đến 95% khối lượng kiên cố hóa kênh mương, cứng hóa cấp phối thêm 1,5 Km đường giao thông trong thôn. Hiện nay thôn đang tập trung cho một số tiêu chí khác như: “chuẩn về thu nhập”, “xóa nghèo” và tiêu chí “nhà ở của dân cư”.
          Trao đổi cùng chúng tôi, đồng chí Đinh Trường Minh - phó bí thư đảng ủy, chủ tịch UBND xã và đồng chí Nguyến Tiến Toán, phó bí thư thường trực Đảng ủy đều có chung một nhận xét: Phong trào của thôn Nam Hải được khởi sắc, không thể không kể đến vài trò của “Người đứng đầu” là bí thư chi bộ Trần Xuân Hòa. Ở đây đã thực sự phát huy được tinh thần “Cán bộ-đảng viên đi trước; làng nước theo sau”.
          Tiếp xúc với Trần Xuân Hòa, chúng tôi còn có cảm nhận thêm người cựu chiến binh này không chỉ là đức tính cần mẫn, gương mẫu và khiêm nhường, mà anh còn tỏ thái độ không đồng tình với những biểu hiện công thần, đòi hỏi. Anh cho rằng, với những người cùng thế hệ của mình thì việc cống hiến cho sự nghiệp giải phóng Tổ Quốc là lẽ đương nhiên. Chỉ tiếc là, còn biết bao đồng đội đã hy sinh, nhưng hôm nay vẫn chưa tìm được hài cốt hoặc vì một lý do nào đó mà bị mất cả tên trên bia mộ. Còn mình, về được với gia đình, còn được tiếp tục làm việc, cống hiến thì đã là may mắn lắm.
          Vai trò “người đứng đầu” cho dù ở bất kỳ cương vị nào cũng đều có tính quyết định đối với sự thành công của địa phương, đơn vị. Tuy chỉ là một bí thư chi bộ, nhưng với tính gương mẫu, cần cù, trách nhiệm, anh Trần Xuân Hòa đã thực sự nêu gương và xứng đáng là một trong những đại biểu tiêu biểu của huyện Bảo Thắng tham dự lễ mít tinh kỷ niệm 65 năm ngày Thương binh-Liệt sỹ tại Tỉnh Lào Cai và được nhận nhiều hình thức khen thưởng của Đảng, chính quyền trong thời gian qua. 

                                                                                             Mạnh Nguyên

05 tháng 7 2012

KHÔNG RƯỚC HỌA VÀO THÂN VÌ CẢM QUAN KHOÁI KHẨU


Đã nhiều năm qua, tình trạng do ăn tiết canh dẫn đến ngộ độc thực phẩm và lây nhiễm các chứng bệnh nan y luôn được các cơ quan chức năng nhắc nhở, khuyến cáo; các phương tiện thông tin đại chúng cũng thường xuyên cảnh báo, đưa tin về vấn đề này. Tuy nhiên, việc ăn tiết canh bán sẵn, ăn tiết canh qua tự giết mổ hoặc mua tiết sống ở chợ về chế biến tại gia đình vẫn được diễn ra khá sôi động ở nhiều nơi. Cùng với đó là những vụ ngộ độc cũng không hề thuyên giảm.

Mới đây theo thông báo của UBND huyện Bảo Thắng, chỉ trong 6 tháng đầu năm 2012, trên địa bàn Huyện đã xảy ra 3 vụ ngộ độc do ăn tiết canh ngựa tại các thôn Vàng 2 thuộc xã Xuân Giao; Nậm Cút và Na Ó thuộc xã Xuân Quang, làm 22 người mắc ngộ độc phải nhập viện. Rất may, do được cấp cứu kịp thời nên chưa có trường hợp nào tử vong. Điều đáng nói là, những vụ ngộ độc nêu trên hoàn toàn không mới đối với huyện Bảo Thắng. Vì, từ năm 2009 trở lại đây đã có không ít vụ ngộ độc do ăn tiết canh ngựa trên địa bàn, trong đó có vụ lên tới hàng chục người nhập viện.

          Ăn tiết canh sống từ lâu đã là thói quen khoái khẩu của nhiều người. Trước đây người ta chỉ ăn các loại tiết canh lợn, tiết canh chó, tiết canh ngan, vịt. Song, với sự phát triển của y học hiện đại, các chuyên gia y tế đã chứng minh, ăn tiết canh sống luôn là mối hiểm họa, nhiễm nhiều loại bệnh nguy hiểm. Có thể kể đến như: Bệnh liên cầu lợn; bệnh sán dây, sán lá, giun móc, giun tóc, giun chỉ; nhiễm cúm AH5N1 và nhiều loại bệnh nguy hiểm khác có khả năng lây chéo  từ động vật sang người. Từ khi có xuất hiện dịch lợn “Tai xanh” thì tình trạng tử vong cao ở người dùng thực phẩm (tiết canh) còn là do lây nhiễm bệnh Liên cầu trùng từ lợn sang người. Ngoài ra, ăn tiết canh sống cũng có thể nhiễm các bệnh không gây chết người ngay, nhưng để lại hậu quả năng nề với sức khỏe vì những biến chứng ở nội tạng, ở não như, ấu trùng sán lá gan, sán lá phổi và những bệnh về máu, gây ra thiếu máu cấp do giun móc, giun tóc; bệnh gây tắc bạch mạch do giun chỉ .v.v.

Gần đây lại rộ lên trào lưu ăn tiết canh ngựa. Người ta kháo nhau rằng, tiết canh ngựa vừa mát vừa bổ. Cho nên, ở thị trấn Phố Lu mấy năm trước còn có những quán ăn sáng chuyên chế biến tiết canh ngựa, phục vụ cho “Bình minh thực khách”, với những biển quản cáo khá hấp dẫn. Nhưng từ sau mấy vụ ngộ độc đông người vì đã xơi phải thứ “đặc sản” này, thì nhiều quán phải đóng cửa. Theo quy luật, khi có cầu thì ắt sẽ có cung, vì vậy mà tiết ngựa, tiết lợn sống hãm sẵn vẫn được các ông, bà chủ lò mổ chiều khách, cung cấp với phương thức bán không công khai cho bất kỳ ai có nhu cầu. Được biết, hiện nay ngay trên địa bàn giáp gianh với huyện lỵ Bảo Thắng vẫn còn một quán ăn sáng có món “đặc sản” tiết canh ngựa rất ăn khách. Điều này chứng tỏ, dù các phương tiện thông tin luôn cảnh báo, các cơ quan chuyên môn vừa trực tiếp tuyên truyền, vừa đưa ra cả những chế tài nhất định để xử lý hành vi vi phạm quy định An toàn vệ sinh thực phẩm, nhưng vẫn không thắng nổi cảm giác khoái khẩu nhất thời của nhiều thực khách. Chỉ những người ăn xong, ngộ độc rồi mới kịp rút kinh nghiệm – đây là  những bài học đắt giá, thậm chí có khi phải đánh đổi bằng cả tính mạng con người.

Một quan ăn sáng có quảng cáo tiết canh ngựa
          Theo các cơ quan chuyên môn Y tế và Vệ sinh ATTP, phần lớn các vụ ngộ độc tiết canh ngựa là do nhiễm khẩn tụ cầu trùng hoặc nhiễm trực khuẩn Salmonella (San mô nen la). Những vi khuẩn này thường tồn tại trong thiên nhiên, trên da của súc vật bị giết mổ hoặc ở tay người giết mổ nhiễm vào tiết trong quá trình giết mổ gia súc. Đây là những vi khuẩn rất “ái” với môi trường tiết sống. Nếu tiết bị nhiễm khuẩn lại được lưu giữ thời gian nhiều giờ, trong điều nhiệt độ môi trường trên dưới 30oC thì các vi khuẩn này phát triển rất mạnh, vì vậy nhiễm độc do ăn tiết canh ngựa thường gặp ở thời tiết mùa hè. Đối với tụ cầu khuẩn, thời gian ủ bệnh nói chung ngắn, khoảng từ 1 đến 6 giờ, trung bình là 3 giờ. Triệu chứng chủ yếu của ngộ độc tụ cầu là chóng mặt, buồn nôn, rồi nôn mửa dữ dội, đau bụng quặn, đi ỉa chảy và đau đầu; mạch nhanh, nhiệt độ bình thường hoặc hơi sốt do mất nước. Đối với khuẩn Salmonella thì biểu hiện của ngộ độc là tiêu chảy, đau bụng, buồn nôn, nôn, sốt và đau đầu… Triệu chứng thường xuất hiện muộn hơn, vào khoảng từ 12 đến 36 giờ sau khi ăn thực phẩm có nhiễm khuẩn. Các triệu chứng này có thể kéo dài từ 2 ngày đến 1 tuần.

          Như vậy, ăn tiết canh sống là một thói quen rất có hại cho sức khỏe. Từ thói quen này chưa thấy đâu là “mát, bổ”, nhưng năm nào cũng xuất hiện những vụ ngộ độc dẫn đến nhiều người phải nhập viện. Đáng tiếc hơn, đã có không ít trường hợp tử vong do cấp cứu không kịp thời hoặc nhiễm phải Liên cầu trùng lợn, gây trọng bệnh mà tử vong, mặc dù đã được cấp cứu ở Viện các bệnh nhiệt đới quốc gia -  Tuyến cao nhất về xử lý các bệnh truyền nhiễm. 

          Cổ nhân có câu “Miếng ăn quá khẩu thành tàn”. Cho nên, những thứ thực phẩm dù có là món khoái khẩu, nhưng khi đã có cảnh báo từ các cơ quan chức năng; cảnh báo trên các phương tiện thông tin đại chúng về sự nguy hiểm đối với Vệ sinh an toàn thực phẩm thì chúng ta nên tuân thủ, tuyệt đối không sử dụng. Một trong số khẩu hiệu cho tháng hành động vì vệ sinh an toàn thực phẩm năm 2012 là: “Để bảo vệ sức khỏe của bạn và gia đình: Hãy lựa chọn, chế biến và tiêu dùng thực phẩm an toàn!” một lần nữa nhắc chúng ta, không vì những cảm quan, khoái khẩu mà chuốc họa cho bản thân và gia đình.

                                                                                        M.N

11 tháng 6 2012

NHỚ MỘT MÙA HOA PHƯỢNG

Có một mùa hoa Phượng chẳng muốn rơi
Cứ cháy mãi rực hồn trong vòm lá
Tiếng ve ran dục thời gian vội vã
Cho lòng ta nao nao.

Có một mùa hoa Phượng xôn xao
Gió rối tung tiếng cười rộn rã
Có ánh mắt nhìn nhau là lạ
Cho lòng ai bâng khuâng.

Có một mùa cánh Phượng lâng lâng
Cứ nấn ná chao nghiêng trong vở
Thời gian qua ép vào nỗi nhớ
Khiến lòng ta chơi vơi.

Nhớ một mùa qua bao mùa ...Phượng ơi!
Chia tay rồi ai ngờ xa mãi
Anh chẳng thể làm thời gian trở lại
Em xa rồi chỉ còn Phượng đơn côi.

                          Phạm Văn Hùng
               (Bí thư đảng ủy xã Trì Quang)

08 tháng 6 2012

BẢO THẮNG VÀO XUÂN (Tùy bút Xuân Nhâm Thìn-2012)


  
          Mùa Xuân là khởi đầu của một năm, nhưng với người Việt Nam, đầu Xuân mới còn gắn liền với cái tết Cổ truyền, mang đậm nét văn hóa truyền thống của Dân tộc - đó là khi cơn gió cuối mùa làm trút nốt những lá bàng màu đỏ để nhường chỗ nhú mầm cho những chồi non; là bầu không khí ấm dần trong sắc trắng từ hoa mận, hoa mơ; từ sắc vàng của hoa mai, hoa cúc và sắc hồng của hoa đào...
          Đến với Bảo Thắng hôm nay, khi thời tiết còn chưa dứt những cơn gió lạnh cuối mùa, nhưng ta đã cảm được mùa Xuân đang đến:
Xuân đến năm nay, sớm lạ thường
Trời đang rét ngọt, sáng nhiều sương
Ong kêu ong dậy đường hoa vải
Rực lúa chiêm, trăng, bướm, bướm vàng...
                                              (Xuân sớm-Tố Hữu)

Đứng trước thềm Xuân mới Nhâm Thìn, chúng ta lại có dịp nhìn về năm Tân Mão vừa qua - Năm khởi đầu cho Kế họach 5 năm (2011-2015). Mặc dù ngay từ đầu năm trên địa bàn Huyện đã xuất hiện nhiều khó khăn, thách thức. Đó là nền kinh tế tiếp tục chịu ảnh hưởng từ tình hình chung về suy thoái kinh tế; rồi thời tiết bất thường; dịch bệnh trên đàn gia súc bùng phát ở nhiều cơ sở; một số chính sách về GPMB còn bộc lộ bất cập. Việc thi công các khu tái định cư chậm, làm ảnh hưởng lớn đến đời sống nhân dân; tình trạng giao thông xuống cấp, ô nhiễm môi trường ở các khu công nghiệp tạo nên những bức xúc, phức tạp về trật tự an ninh...Nhưng, dưới sự lãnh đạo sát sao của Ban chấp hành Đảng bộ, sự điều hành quyết liệt của chính quyền Huyện, sự đồng thuận trong cán bộ và nhân dân các dân tộc. Chúng ta đã tranh thủ được thuận lợi cơ bản từ các chính sách phát triển kinh tế, đảm bảo an sinh xã hội, xoá đói giảm nghèo và xây dựng nông thôn mới. Mặt khác, nhiều thành tựu phát triển kinh tế - xã hội của địa phương trong những năm trước đây đã phát huy hiệu quả, tạo đà cho quá trình triển khai thực hiện nhiệm vụ của năm kế hoạch. Những sự kiện lớn của đất nước, của tỉnh mà đặc biệt là thành công của đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI; thành công của cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XIII, bầu cử HĐND các cấp (nhiệm kỳ 2011-2016) đã thổi bùng lên khí thế thi đua; động viên tinh thần phấn khởi, tin tưởng của nhân dân các dân tộc vào công cuộc đổi mới đã và đang thu được nhiều thành quả đáng tự hào. 
 
Trên địa bàn Huyện, không khí xây dựng nông thôn mới đã bắt nhịp với hiện thực cuộc sống. Hiệu quả từ chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, với sự tăng nhanh những cánh đồng luân canh 3 vụ, giá trị thu nhập trên 1 ha diện tích canh tác không ngừng được nâng lên. Nhiều trang trại chăn nuôi, trang trại tổng hợp và dịch vụ nông nghiệp tiếp tục được đầu tư phát triển, tạo tiền đề để hình thành các quy mô sản xuất hàng hóa trong khu vực nông nghiệp-nông thôn. Và cũng từ quy mô đó, trong khu vực nông nghiệp đã xuất hiện không ít tỷ phú nông dân. Những thay đổi căn bản về tư duy của người nông dân cùng với sự chung tay góp sức của các lực lượng xã hội, bức tranh nông thôn ngày càng được điểm tô thêm nhiều gam màu sáng mới, tỷ lệ thoát nghèo vượt lên tới trên 200% so với chỉ tiêu Đại hội; hàng ngàn lao động nông nghiệp - nông thôn được đào tạo nghề và giải quyết việc làm.
Giá trị về công nghiệp và thủ công nghiêp đạt tới 134% kế hoạch năm; thu ngân sách đạt trên 120%, đó là những con số ấn tượng đánh dấu mức tăng trưởng khá về kinh tế của địa phương. Mặc dù công tác GPMB còn có nhiều khó khăn, phức tạp, nhưng trước ngày kết thúc kế hoạch năm, Huyện đã hoàn tất việc bàn giao mặt bằng sạch cho chủ đầu tư công trình trọng điểm quốc gia Đường cao tốc Nội bai-Lào Cai. Đã bảo vệ an toàn cho san gạt mặt bằng và khởi công công trình xây dựng nhà máy DAP số 2 tại Khu công nghiệp Tằng Loỏng, bảo đảm thời gian và tiến độ.
Thắng lợi của năm Tân Mão (2011) là động lực tạo nên niềm hứng khởi để Bảo Thắng vững bước vào Xuân Nhâm Thìn (2012) - năm thứ 2 thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ các cấp, nhiệm kỳ 2011- 2015. Đó là việc tiếp tục triển khai thực hiện 6 Chương trình, 14 Đề án trọng tâm và các đề án, kế hoạch, nghị quyết chuyên đề của BCH Đảng bộ huyện. Ngay đầu năm, trong không khí đón Xuân tưng bừng cũng là lúc sự sôi động từ Hội khỏe của tuổi trẻ học đường được khai mạc- Đây là một đại hội TDTT truyền thống của học sinh các trường phổ thông, nhắc chúng ta hướng tới một năm mới đầy nghị lực và sẽ vươn lên như sức mạnh Thiên Vương - Phù Đổng. Trong không khí mừng Xuân và rộn ràng lễ hội, người Bảo Thắng vẫn không quên truyền thống cần cù và tinh thần vượt khó.
Trong những ngày này, thay vì những khắc nghiệt của mùa đông, thì trên các cánh đồng vẫn trải dài màu xanh rau, màu, được điểm tô cùng những vườn hoa Xuân đang chờ ngày khoe sắc. Phong trào xây dựng nông thôn mới đang tiếp tục tranh thủ các nguồn lực cho đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng, theo bộ “tiêu chí quốc gia nông thôn mới”. Nhiều khu dân cư đã phát huy được tinh thần đoàn kết, tự lực, tự cường, đóng góp công sức, vật tư, đất đai làm đường giao thông, tu sửa công trình thủy lợi, nước sinh hoạt và xây dựng thiết chế văn hóa, góp phần nhanh chóng đưa mục tiêu về đích.
Giờ đây Xuân đã gõ cửa mọi nhà, để người người tạm quên đi những gian trân vất vả, cùng hướng về giây phút thiêng liêng - giây phút được coi là thời điểm giao hòa của cha Trời, mẹ Đất, tạo ngọn nguồn cho vạn vật sinh sôi:
                                           “Như nghìn năm đẹp nét xuân xưa
                                           Bỗng toả gương trong, sạch bụi mờ
                                           Xuân mới, đơn sơ, đằm thắm vậy
                                           Căng đầy sức dậy, dáng non tơ...”
                                                                (Xuân sớm-Tỗ Hữu)

Trong niềm vui đón thế rồng bay của Xuân mới Nhâm Thìn, nhân dân các dân tộc huyện Bảo Thắng sẽ tiếp tục đoàn kết, dưới sự lãnh đạo của ban chấp hành Đảng bộ và sự điều hành năng động của chính quyền; sự quy tụ của MTTQ và các đoàn thể nhân dân. Quyết tâm đưa phong trào thi đua yêu nước không ngừng được nhân lên, nhằm phấn đấu thực hiện thắng lợi toàn diện mục tiêu nhiệm vụ kế hoạch năm 2012 ngay từ những ngày đầu Xuân mới.

                                                                                   M.N

26 tháng 5 2012

Bình luận: GIẢM THIỂU THIÊN TAI TRƯỚC HẾT CẦN CÓ THÁI ĐỘ ỨNG XỬ THÂN THIỆN VỚI MÔI TRƯỜNG (Bài viết cho ngày Môi trường thế giới-5/6)



          Gần đây chúng ta thường được nghe nhiều đến tần suất xuất hiện những thảm họa thiên tai như lũ ống, lũ quét, sạt lở núi, sạt lở bờ sông, sụt đất, nước biển dâng, động đất, sóng thần, lốc xoáy, mưa đá…Sự gia tăng tần suất của các loại hình thảm họa đó không chỉ là hiện tượng tự nhiên vốn có mà còn do một nguyên nhân quan trọng là hệ lụy từ hành vi khai thác vô tổ chức và tác động trái quy luật của con người vào môi trường tự nhiên.
          Nhiều năm trước đây Thế giới đã ý thức rất rõ về vấn đề này, cho nên bản dự thảo Nghị định thư Kioto đã được các bên tham gia kí kết vào ngày 11 tháng 12 năm 1997 và chính thức có hiệu lực vào ngày 16 tháng 2 năm 2005. Đến tháng 11/2007 đã có tới 175 nước kí kết Nghị định thư này, với mục đích tham gia Chương trình khung về biến đổi khí hậu mang tầm quốc tế của Liên hiệp quốc. Mục tiêu của Chương trình nhằm, cắt giảm lượng khí thải gây hiệu ứng nhà kính. Song thực tế, do lợi ích cục bộ cho nên cũng còn không ít những tranh cãi.
          Nhìn về phạm vi quốc gia và địa phương, vấn đề lẽ ra sẽ không phức tạp đến như vậy, vì chúng ta đã có cả một hệ thống pháp luật đồng bộ để điều chỉnh cho mọi lĩnh vực hoạt động của xã hội, trong đó có lĩnh vực về tài nguyên và môi trường. Song, thực trạng  ở đây đó vẫn tồn tại những vi phạm đến mức đáng báo động. Ngay trên địa bàn tỉnh Lào Cai và huyện Bảo Thắng, hoạt động của một số nhà máy không đủ tiêu chuẩn về xử lý ô nhiễm môi trường; rồi tình trạng phá rừng làm rẫy, tình trạng ô nhiễm rác thải và khai thác tài nguyên khoáng sản trái phép có nơi, có lúc đã gây nên bức xúc.
          Những vấn đề nêu trên thực tế không mới. Được biết, chính quyền và các ngành chức năng cũng đã vào cuộc, nhưng cá biệt có nơi, có lúc vẫn chưa đạt được giải pháp khả dĩ để dứt điểm - nếu không nói là còn biểu hiện “Đánh trống bỏ dùi”. Sự vào cuộc nửa vời đương nhiên là hiệu quả sẽ không cao, đáng lo ngại hơn là đã tạo nên tình trạng “nhờn thuốc” trước hiệu lực của pháp luật. Đơn cử một ví dụ về hoạt động khai thác khoáng sản không phép đang tiếp tục gia tăng, nhất là tình trạng đào đãi vàng sa khoáng trên Sông Hồng và một số khe ngòi, cứ mỗi lần chính quyền và các ngành chức năng nơi này làm mạnh thì những người khai thác lậu lại dạt sang nơi kia. Không biết các đối tượng khai thác khoáng sản trái phép đã bị xử phạt đến mức nào, nhưng các phương tiện hành nghề của họ thì vẫn “trơ gan cùng tuế nguyệt”. Đó chính là điều kiện để họ chỉ cần di dời địa điểm là lại có thể vô tư hoạt động. Theo phản ánh của nhân dân, một số tầu khai thác vàng sa khoáng trên Sông Hồng đã hiển hiện công khai trong suốt thời gian qua từ Văn Yên-Yên Bái ngược lên địa phận tỉnh Lào Cai - nhất là từ khu vực Bảo Hà, Bảo Yên  lên đến Thái Niên của Bảo Thắng. Các tầu này đều có trang bị hiện đại như máy phát điện, máy xúc, máng đãi máy bằng hệ thống guồng …công suất mỗi giờ có thể đào đãi và xả thải ra tới hàng chục mét khối sỏi. Vì vậy những con tầu này đi đến đâu thì tạo nên những gò, đống cát - sỏi ở ngay giữa lòng sông. Có chỗ thậm chí còn lấp kín hàng chục mét, làm cản trở và biến đổi dòng chảy của sông, ngòi. Với con mắt của những người dân bình thường cũng hiểu được, đó chính là hiểm họa gây xói lở bờ sông không theo quy luật; là tác động trực tiếp đến nơi ở và diện tích canh tác của cư dân ven bờ và đã khoét sâu vào chân một số cây cầu lớn. Việc khai thác vàng trên sông ngòi không chỉ gây nên biến đổi dòng chảy, sạt lở bất thường mà đáng ngại hơn, đó là sự ô nhiễm dòng sông do các chất độc hại nguy hiểm như thủy ngân, xianua được thải ra trong quá trình hoạt động.


         
                              Cơ quan chức năng lập biên bản, đình chỉ khai thác KS trái phép

          Những con tàu này chỉ bị các địa phương xua đuổi chứ chưa thấy bị xử lý với một chế tài hữu hiệu nào để chấm dứt được hoạt động của nó. Với cách “Phạt cho tồn tại” hoặc chỉ xua đuổi ra khỏi địa bàn thì chẳng khác gì trò “bắt cóc bỏ đĩa”. Vừa qua nhóm phóng viên thời sự phát thanh-truyền hình có ghi lại hình ảnh một con tàu trên Sông Hồng, thuộc địa phận xã Sơn Hải - sau khi nó đã bị chính quyền địa phương đình chỉ hoạt động và yêu cầu trục xuất. Nhưng chỉ ít ngày sau đã lại thấy nó lừng lững xuất hiện và ngang nhiên hoạt động ngay phía trên nơi bị trục xuất không xa!.
          Lâu nay, như đã thành mô - tip của các báo cáo, nếu một vấn đề gì đó còn tồn tại hạn chế thì sẽ được đổ lỗi đầu tiên là do công tác tuyên truyền, giáo dục chưa tốt, chưa tích cực. Nhưng với các đối tượng khai thác tài nguyên khoáng sản trái phép, gây hậu quả cho môi trường thì hầu như họ đều hiểu biết rất rõ về hành vi của mình.  Một chủ tầu làm vàng (Quê ngoại thành Hà Nội) cho biết, anh ta phải đầu tư tới hàng tỉ đồng để đóng một con tầu làm vàng trên sông, nhưng do ở “dưới đó” chính quyền làm riết quá nên phải dạt lên “đây” “làm ăn”. Phải chăng, trước lợi nhuận từ việc khai thác vàng trái phép, thì dù biết rõ quy định của pháp luật họ vẫn tìm cách lách kẽ hở của công tác quản lý để trục lợi, bất chấp quy định cấm của Luật pháp hiện hành.
Cụm từ “thiên tai” xưa nay thường được hiểu là tai họa do thiên nhiên mạng lại, nhưng ngày nay sự biến đổi khí hậu và biến đổi kết cấu hạ tầng địa chất, dẫn đến gia tăng tần suất thảm họa thiên tai đã được các nhà khoa học khẳng định, phần lớn là do sự tác động trái quy luật của con người trong ứng xử với thiên nhiên.
Vì vậy, để giảm thiểu thảm họa thiên tai, vấn đề không chỉ ở các biện pháp phòng chống cục bộ, mà đặc biệt quan trọng là cần có một thái độ tự giác của mỗi con người về bảo vệ môi trường và hành vi ứng xử với thiên nhiên.

                                                                                      Mạnh Nguyên


20 tháng 5 2012

BẢO THẮNG VẪN ÂM VANG KHÚC HÁT TỰ HÀO



 Ngược dòng thời gian để trở lại với hơn 60 năm về trước (ngày 15/10/1948), Bảo Thắng đang sôi sục trong khí thế đấu tranh cách mạng -  Đảng bộ huyện ra đời đánh dấu một bước ngoặt quan trọng của sự nghiệp cách mạng địa phương.
Dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ, nhân dân các dân tộc huyện Bảo Thắng đã lập nên nhiều chiến công vang dội, khởi đầu bằng tiếng trống võ trang Cam Đường (đêm ngày 13/12/1948), nhân dân trong huyện đã đứng lên diệt ác, trừ gian, giành lại chính quyền. Tiếp đó phong trào đấu tranh lan rộng khắp trong toàn huyện...hình thành khu căn cứ cách mạng rộng trên 300 km2 trải dài từ Gia Phú, Xuân Giao, Sơn Hải, Thái Niên, Phố Lu. Huyện Bảo Thắng trở thành địa bàn trọng yếu, khu căn cứ cách mạng quan trọng của cả tỉnh Lào Cai, với ý chí quyết tâm giành độc lập cho quê hương, quân và dân Bảo Thắng đã chiến đấu giành thắng lợi vẻ vang trong chiến dịch Lê Hồng Phong màn 1,cùng với quân chủ lực tiến công giải phóng Phố Lu vào ngày 13/2/1950, tạo thế và lực làm nên chiến thắng giải phóng hoàn toàn tỉnh Lào Cai. Góp sức cùng với cả nước, trong chiến dịch Đông - Xuân 1953-1954, quân và dân Bảo Thắng đã huy động hàng nghìn lượt dân công hoả tuyến, hàng trăm tấn lương thực, thực phẩm phục vụ chiến dịch Điện Biên Phủ, góp phần làm nên chiến thắng Điện Biên lịch sử, giải phóng hoàn toàn Miền Bắc.
Trong những năm kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược, Đảng bộ huyện tiếp tục lãnh đạo nhân dân các dân tộc tập trung đẩy mạnh sản xuất, xây dựng cơ sở vật chất cho CNXH, góp phần chi viện sức người, sức của, cùng cả nước làm nên chiến thắng vang dội mùa xuân năm 1975 - giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Trải qua các cuộc chiến tranh, biết bao đảng viên ưu tú và những người dân bình dị của quê hương Bảo Thắng đã ngã xuống cho quê hương, đất nước Việt Nam được tươi đẹp như ngày hôm nay. Sự hy sinh anh dũng của các đồng chí: Hoàng Sào, Kim Hải, Khuất Duy Chiến cùng không ít cán bộ, đảng viên và nhân dân các dân tộc trong huyện đã nêu tấm gương sáng về sự tận trung với nước, tận hiếu với dân. Để lại gương sáng cho các thế hệ hôm nay và mãi mãi mai sau.
          Ngày 01/10/1991 tỉnh Lào Cai được tái lập, Bảo Thắng lại được tỉnh chọn là nơi tập kết. Nhiều cơ quan của Tỉnh uỷ, HĐND, UBND và các sở, ban, ngành được đặt tại huyện lỵ Bảo Thắng, niềm vui, tự hào, trách nhiệm lớn lao được trao cho cán bộ, đảng viên và nhân dân các dân tộc trong huyện. Mặc dù còn có những khó khăn nhất định nhưng dưới sự lãnh đạo của BCH Đảng bộ huyện, trong những ngày Tỉnh tập kết tại huyện, ngoài việc hỗ trợ của các bộ, ngành Trung uơng, Bảo Thắng đã có nhiều sáng tạo trong việc đẩy mạnh phát triển kinh tế, cung cấp các mặt hàng thiết yếu phục vụ cho cán bộ viên chức, bảo đảm trật tự an toàn xã hội, an ninh quốc phòng…xứng đáng là hậu phương vững chắc của tỉnh. Đây chính là điểm nhấn để mỗi hình ảnh, mỗi bước bước tiến mới của Lào Cai hôm nay luôn in đậm trong trái tim của mỗi người dân dân tộc Bảo Thắng.
 Từ 02 chi bộ đầu tiên với hơn ba chục đảng viên, đến nay Đảng bộ huyện đã có 63 tổ chức cơ sở Đảng với trên 3.350 đảng viên. Qua 26 kỳ đại hội - mỗi chặng đường cách mạng, Đảng bộ Huyện luôn đề ra được những nghị quyết sát, đúng với tình hình thực tế của địa phương; với nhiều cách làm hay, những bước đi năng động, sáng tạo đã kịp thời đề ra được nhiệm vụ cụ thể cho từng giai đoạn phát triển của địa phương. Nhất là sau hơn hai mươi năm thực hiện sự nghiệp đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo, Đảng bộ và nhân dân Bảo Thắng đã vận dụng sáng tạo các chủ trương, nghị quyết của Đảng để đẩy mạnh phát triển KT-XH, tạo ra bước đột phá trên các lĩnh vực kinh tế trọng yếu, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng sản xuất hàng hóa; phát triển đa dạng các ngành nghề kinh doanh, dịch vụ sản xuất, kết quả đó được minh chứng ở tốc độ tăng trưởng kinh tế năm 2010 của huyện tiếp tục đạt 17,69%, nâng thu nhập bình quân đầu người lên 12,63 triệu đồng/năm; Văn hóa - xã hội có nhiều tiến bộ, đáp ứng nhu cầu, lợi ích nhiều mặt cho các tầng lớp nhân dân; toàn huyện đã có 1.645 hộ thoát nghèo, góp phần giảm tỷ lệ hộ nghèo xuống còn 9,1%.
 Bảo Thắng hôm nay đang đứng trước thời cơ và thuận lợi mới, vừa nằm ở vị trí trung tâm của tỉnh, vừa nằm trên hai trục kinh tế quan trọng - Trục kinh tế nông nghiệp chất lượng cao (Bát Xát - Lào Cai - Bảo Thắng - Bảo Yên) và trục công nghiệp luyện kim màu (Bảo Thắng - Văn Bàn) sẽ thuận lợi về hợp tác phát triển kinh tế - xã hội, giao lưu buôn bán hàng hóa. Khu công nghiệp Tằng Loỏng đi vào hoạt động hiệu quả, các tuyến đường giao thông được sửa chữa, nâng cấp và mở rộng sẽ tạo điều kiện thuận lợi, là động lực thúc đẩy kinh tế - xã hội của huyện chuyển dịch và phát triển mạnh mẽ. Các chương trình, đề án, kế hoạch trọng tâm của BCH Đảng bộ huyện khóa 25 đã và đang phát huy hiệu quả, tạo đà để huyện có những bước phát triển mới trong giai đoạn 2010 - 2015. Nghị quyết Đại hội lần thứ XXVI đã đề ra 26 mục tiêu chủ yếu trên các lĩnh vực và được cụ thể bằng 6 chương trình, 13 đề án trọng tâm hướng về cơ sở, đang tiếp tục phát huy lợi thế và ấp ủ nhiều hứa hẹn mới.
Có thể nói, những kết quả đạt được trên tiền đề vững chắc, tạo động lực mạnh mẽ để Bảo Thắng lôn vang lên “tiếng hát tự hào” tự hào, tiếp tục khơi dậy và phát huy nội lực viết nên những trang sử mới; quyết phấn đấu thực hiện thắng lợi nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ 26 và đại hội đảng các cấp, góp phần quan trọng cho sự nghiêp xây dựng quê hương Lào Cai ngày một đổi mới và phát triển bền vững.

                                          Ngô Hữu Tường
                                   Văn phòng Đoàn ĐBQH và HĐND tỉnh Lào Cai
                                           

19 tháng 5 2012

NÔNG DÂN BẢO THẮNG LAO ĐAO CÙNG CÂY SẮN


          Do được giá, trong mấy năm qua người dân trên địa bàn huyện Bảo Thắng đã tự phát trồng khá nhiều cây sắn. Việc bán sắn củ tươi trong mùa thu hoạch năm 2010-2011 đã giúp cho nhiều hộ nông dân ở các xã Phố Lu, Trì Quang, Xuân Quang, Bản Cầm...có được món tiền kha khá. Vì vậy diện tích trồng sắn của năm 2011 tiếp tục được mở rộng. Song, giá sắn lên xuống thường bấp bênh đến khó lường, cho nên người trồng sắn cũng chấp nhận rủi ro không khác gì đánh bạc. 

Đầu năm 2012, việc thu mua sắn từ các đầu nậu, tư thương có phần chững lại, giá thu mua bình quân tụt xuống tới gần 50% so với cùng kỳ năm ngoái. Nếu như cuối đầu năm 2011 giá mỗi kg sắn tươi bán được từ 1.600 đến 1.800 đồng, thì hiện nay chỉ còn bán được từ 900 đến 1000 đồng.  Vì vậy, nhiều hộ dân đã ngao ngán, bởi sản lượng thì tăng lên mà thực tế thì lại thất thu nặng!.
Vừa qua chúng tôi đã đến với thôn Làng Đào, xã Trì Quang - địa chỉ được coi như một trong những thôn có diện tích trồng sắn cao nhất xã. Tại đây, trước mắt chúng tôi hiển hiện mênh mông là đồi sắn. Mặc dù người dân đã thu hoạch từ cuối năm 2011, nhưng số đồi sắn chưa thu vẫn còn khá lớn. Càng vào sâu thì càng thấy nhiều nương sắn điệp trùng, xen lẫn với những cánh rừng phòng hộ. Phải thừa nhận, giống sắn cao sản đã nhanh chóng được người dân nơi đây chấp nhận, vì chúng cho năng suất vượt trội. Trên thực tế đã có thời gian cây sắn sắn cao sản này đem lại giá trị kinh tế đáng kể, trung bình một Ha đất trồng sắn có thể cho thu nhập đến trên dưới 40 triệu đồng. Năm nay, tuy sắn mất giá, nhưng theo như một người dân cho biết, dù “lấy công làm lãi” vẫn có thể thu được 17 triệu đồng/ 1 ha.
       Trò chuyện cùng anh nông dân Lý Văn Hồng - người đang thu hoạch sắn. Năm vừa qua gia đình Anh trồng được 3 Ha, mỗi Ha bình quân thu được khoảng trên 20 tấn sắn củ tươi. Phần lớn diện tích sắn của gia đình là trồng xen canh, kế vụ sau khi đã thu hoạch gỗ, nhằm tranh thủ sử dụng đất nhàn khi cây gỗ mới trồng chưa khép tán.
      Tuy nhiên, từ nguồn lợi trước mắt, cũng có không ít người bất chấp hậu quả, đầu tư cho trồng sắn bằng mọi giá. Vụ sắn năm 2011, có hộ dân đã trồng tới trên 5 ha, góp phần nâng tổng diện tích sắn của xã Trì Quang lên tới 450 Ha. Được biết, sự gia tăng diện tích cây sắn ở các xã khác của Bảo Thắng cũng tương tự. Đó là lý do để các tư thương, đầu nậu hạ giá thu mua, làm cho niềm hy vọng tràn trề của người trồng sắn gần một năm chăm sóc, bỗng trở nên thất vọng. Hiện tại không ít người dân đã phải đã tạm dừng thu hoạch, hy vọng rồi giá sắn sẽ lại lên!?.
Thu hoạch sắn
Ông Lê Xuân Hùng, bí thư đảng ủy xã Trì Quang cho biết, sắn là lọai cây trồng không được khuyến khích, nhưng do dễ trồng lại được giá nên gần đây diện tích sắn luôn được bà con nông dân tự phát mở rộng. Thậm chí có lúc, có nơi được xem như một loại cây trồng chủ lực để “xóa đói, giảm nghèo”. Về mặt nào đó, ở một vài thời điểm cây sắn đã cho người nông dân nguồn thu nhập đáng kể; có gia đình trồng sắn thu được tới cả trăm triệu đồng - số tiền không nhỏ đối với nhiều hộ nông dân, nhất là đồng bào vùng cao, vùng xa. Điều trăn trở nhất của cấp ủy địa phương là, diện tích trồng sắn phát triển ồ ạt khó kiểm soát. nguồn thu mua đầu ra lại hoàn toàn phụ thuộc tư thương. Vì vậy, làm thế nào để quản lý diện tích trồng sắn theo quy hoạch, tránh việc người dân xâm lấn vào đất rừng phòng hộ và tránh sự khủng hoảng đầu ra, gây thiệt hại cho dân là vấn đề cấp bách hiện nay.

          Nguyên nhân về tình trạng giá sắn bấp bênh, người trồng sắn chưa kịp mừng vì sản lượng thu hoạch tăng thì đã phải lo thua lỗ vì bị ép giá. Điều căn bản là do sự phát triển diện tích sắn hoàn toàn tự phát theo tâm lý số đông, hầu hết sắn thu mua là để gom bán sang bên kia biên giới. Quá trình bán - mua giữa người sản xuất với tư thương, rồi từ các tư thương với nhà máy sản xuất bột ở nước ngoài hoàn toàn diễn ra theo kiểu trao đổi miệng, không có sự ràng buộc về pháp lý. Giá cả vì thế cũng chủ yếu từ phía người mua quyết định, khi khan hàng thì đẩy giá lên, khi nguồn cung dồi dào thì ép giá xuống, bất chấp thiệt hại cho đối tác. Về phía người nông dân, sắn đã trồng và đã đến tuổi thu hoạch thì dù lỗ vẫn không thể không bán.
Diện tích sắn xen với những cánh rừng phòng hộ
Phát triển sắn ồ ạt không theo quy hoạch dẫn tới nguy cơ xâm lẫn đất rừng là khó tránh khỏi. Dù người dân luôn giải thích là, tranh thủ đất trồng rừng để trồng sắn như mục tiêu “lấy ngắn nuôi dài”. Nhưng quan sát thấy hàng loạt diện tích  trống trơ, chỉ toàn là đồi sắn, chúng tôi chưa thật tin đây chỉ là “sự tranh thủ” đất rừng. Diện tích của nhiều trăm Ha nối tiếp nhau chỉ toàn là sắn thì tình trạng giữ nước đầu nguồn sẽ ra sao. Sự bào mòn sẽ diễn ra cùng với tốc độ làm nghèo đất nhanh, bởi đặc tính “phàm ăn” của loại cây này là nguy cơ hiện hữu khó tránh khỏi. Theo dự luận quần chúng, đầu đầu năm 2010 có những vụ cháy rừng cũng xuất phát từ nguyên nhân do người dân đốt nương bất cẩn mà gây ra.
          Theo ông Nguyễn Hữu Lý, trưởng phòng Kinh tế huyện Bảo Thắng, tuy không nằm trong kế hoạch phát triển, nhưng hiện tại toàn huyện cũng có đến 3000 ha sắn, tập trung nhiều ở các xã như Phú Nhuận, Xuân Quang, Trì Quang... Và cũng do hiệu quả kinh tế trước mắt, cho nên dù đã có cảnh báo từ phía chính quyền và cơ quan chức năng, nhưng người dân vẫn ồ ạt trồng một cách tự phát. Đáng ngại hơn, về lâu dài thì hệ lụy của nó là bào mòn đất rất lớn, nếu người dân trồng sắn liên tục sau 3 năm thì sau đó phải mất 4 năm cải tạo đất, nhưng  để trồng được cây khác cũng hết sức khó khăn.
           Câu chuyện sắn rớt giá năm nay lại thêm một dịp suy ngẫm về vấn đề lúng túng trong phát triển vùng nguyên liệu và bao tiêu sản phẩm nông nghiệp. Mặc dù tình trạng trồng ít thì lãi, trồng đại trà thì lỗ đã là điều không mới đối với nhiều cây trồng từ những năm trước. Vì vậy, bài học cần được rút ra phải được nhìn từ góc độ chỉ đạo, không thể để mặc cho người nông dân cứ đuổi theo lợi nhuận theo kiểu: “Thấy người ăn khoai cũng vác mai xới vườn” thì hậu quả này sẽ còn tiếp tục lặp lại, không chỉ với cây sắn mà còn với nhiều loại cây trồng khác.

                                                                                                    Mạnh Nguyên