Cả Mõ

camoz77.blogspot.com/

13 tháng 4 2018

SẾP TÔI HỌC TẬP BÁC HỒ


             Từ ngày có phong trào học tập tấm gương Chủ tịch Hồ Chí Minh, sếp tôi rất hăng hái thực hiện. Ở đâu, chỗ nào mà sếp phát biểu thì đều không quên nói đến chủ đề này. Ngài bảo, chúng ta học tập Bác là không chỉ nói suông, phải cụ thể trên thực tiễn bằng hành động. Mà đúng thế, từ đó thấy sếp rất chăm chỉ đi cơ sở.
            Câu nói cửa miệng của Ngài thường là: Chúng ta phải sát dân, phải
Ảnh trên mạng Internet
sống bằng cuộc sống của dân, phải thở cùng hơi thở của dân. Không được bàng quan, vô cảm trước cuộc sống của nhân dân. Mỗi lần đến với các khu dân cư là mỗi lần sếp cho ra một quyết định (mồm) đầy ấn tượng.
            Ví dụ, mới tháng trước, khi đến với dân bản Z. Sau khi nghe ông trưởng bản báo cáo một đống thành tích về xây dựng nông thôn mới. Song, bên cạnh đó trưởng bản cũng đề xuất, còn cái cống từ quốc lộ vào bản vẫn phải đi qua cây cầu gỗ, nhân dân rất cần xây lại bằng xi măng cho nó bề thế và chắc chắn. Nghe xong, sếp phấn khích ra mặt, hết lời khen ngợi và sếp hứa:
            - Được rồi, tôi sẽ giúp bà con 3 tấn xi măng để làm cầu!
            Mà không có nói suông đâu nhá, ngay sau đó sếp rút điện thoại gọi liền:
          - A lô, cậu Y đấy hả? Này, cậu cho ngay một xe tải chở 3 tấn “xi” ủng hộ bà con bản Z nhé. Ừ, không có là thế nào? Không thì phải ứng, chở ngay đấy!.
            Xong, Ngài cúp máy trước sự thán phục của mọi người.
Thế mà tài thật, chỉ ít phút sau đã thấy một xe tải của doanh nghiệp tư nhân Y chở đúng 3 tấn xi đến đầu bản. Thế có sướng không!.
            Những ngày xuống dân, bao giờ sếp cũng nhắc nhở anh em đi cùng. Học tập Bác là đến với nhân dân không được gây phiền nhiễu cho cơ sở. Các cậu nhớ là phải chuẩn bị đồ ăn mang theo đấy.
            Chấp hành lệnh sếp, mấy anh chị văn phòng tất bật lo gạo séng cù để làm cơm nắm, thức ăn thì thịt gà “đi bộ” kho gừng. Vì thế, chẳng bao giờ phải ăn cơm của cơ sở.
            Cậu H, chuyên viên hay được đi công tác với sếp. Có lần nhận xét:
            - Sếp mình tuyệt thật, cái gì cũng quyết nhanh đánh rụp. Mà cách học Bác Hồ cũng khác người, mọi cái quyết định “mồm” của sếp đều được mấy anh doanh nghiệp thi hành chóng vánh. Thảo nào mà đi đến đâu cũng được dân quý mến. Khổ cái, bây giờ mà xuống ăn cùng dân thật, chắc sếp cũng khó lòng mà nuốt nổi. Vì có phải ở đâu người dân cũng có sẵn gạo séng cù với gà “đi bộ” kho gừng.
            Gần đây, nghe phong thanh là được “dân quý” nên ở đâu đó đã “tặng” Ngài cả một trang trại to đùng, rộng đến hàng chục HA. Có lẽ tới đây về hưu, sếp sẽ có một biệt phủ để an dưỡng tuổi già. Âu cũng là, vì được dân trả nghĩa!.
                                                                                                                   C.M


05 tháng 4 2018

SAO LẠI “TÂM HỒN VONG BẢN” !?

Nếu không đọc tiếp bài viết của ông Phan An Sa, con út cụ Phan Khôi thì chắc chắn mọi người sẽ hiểu lầm bởi dụng ý xấu của tác giả Minh Diện trong bài viết này.
Chân dung cụ Phan Khôi (1887-1959)
* MINH DIỆN *
Quan tài cha tôi đặt trên chiếc xe song mã màu đen. Đó là loại quan tài xấu nhất được mua phân phối giá hai đồng bảy hào năm xu. Sáu mảnh gỗ tạp, bào qua loa, vênh vẹo đóng đinh qua loa, không sơn phết,tấm thiên,tấm địa và bốn góc đều hở.Trên nóc quan tài chỉ có ba nén nhang cắm vào quả trứng luộc để trong chén cơm. Không nến, không hoa. Không có một vòng hoa, một bông hoa nào trong đám tang cha tôi. Ngoài con ngựa già kéo xe, chỉ có 10 người đưa đám, kể cả hai nhân viên dịch vụ mai táng và người đánh xe ngựa. Người bạn, người đồng nghiệp duy nhất của cha tôi là nhà thơ Yến Lan, còn lại là người trong gia đình. Chúng tôi bấu víu vào nhau, đẩy chiếc xe ngựa lăn bánh chậm chạp ra khỏi con hẻm, đi về hướng cửa Đông. Người hàng phố đứng nhìn đám tang vội vã quay đi. Không ai dám tới dự và đưa cha tôi đến nơi an nghỉ cuối cùng. Họ đều sợ liên lụy . Lúc cha tôi còn sống họ sợ đã đành, giờ cha tôi đã chết mà họ vẫn sợ.
Chiều mùa Đông gió mưa hun hút, lạnh tê tái. Chiếc xe ngựa mầu đem và một dúm người mẩu đen vón vào nhau líu rứu ra hướng cửa Đông. Mẹ tôi bảo dừng lại một phút cho cha tôi chào Hà Nội một lần cuối. Mẹ tôi và chúng tôi thay mặt cha tôi quỳ xuống lạy ba lạy. Tôi nhớ những ngày mới về tiếp quản Thủ Đô, cha tôi thường dẫn chúng tôi đi thăm năm cửa ô và ba sáu phố phường Hà Nội, kể cho chúng tôi nghe về cụ ngoại tôi, Tổng đốc Hoàng Diệu..Ông Phan An vừa lom khom chậm rãi bước đi trong con hẻm phố Thuốc Bắc (Hà Nội) vừa kể về đám tang của cha mình, nhà báo, nhà văn Phan Khôi. Ông cứ nhắc đi nhắc lại, giọng nói như nấc lên:
- Không có đám tang nào ảm đạm như đám tang cha tôi! Không có đám tang nào buồn thảm, thê lương như đám tang cha tôi! Một lần nữa Phan An lại từ Đà Nẵng ra Hà Nội, tìm về căn nhà số 73 hẻm phố này, nơi cha ông đã sống những ngày cuối cùng. Ông tìm về quá khứ, tìm về nỗi đau xót mà gần hết cuộc đời vẫn chưa thể nguôi ngoai được.
Cụ Phan Khôi sinh ngày 6-10-1887 tức 20-8 năm Đinh Hợi, ở làng Bảo An, huyện Điện Bàn, Quảng Nam. Ông nội cụ là Phan Nhu, thân phụ là Phan Trần đều là bậc trí thức nổi tiếng. Mẹ cụ là Hoàng Thị Lê con gái của Tổng đốc Hà Nội, Hoàng Diệu, người đã chỉ huy quân dân Hà Nội tử thủ chống lại quân đội Pháp, bất chấp triều đình Huế đã chấp nhận đầu hàng. Khi Hà Thành thất thủ, ông tự vẫn ở Võ Miếu ngày 25-4-1882 ,quyết không để rơi vào tay giặc . Chú ruột Phan Khôi là Phan Dinh cha của nhà cách mạng Phan Thanh và Phan Bôi, tức Huỳnh Hữu Nam ,nguyên Bộ trưởng bộ nội vụ chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa. Phan Khôi có người em gái là mẹ vợ của nhà văn Vũ Ngọc Phan và tướng Nguyễn Sơn. Với một gia thế như vậy nên Phan Khôi được học hành tử tế, và với bản chất thông minh nên cụ là một người đa tài, và với tài năng vượt trội , cụ là một người mạnh mẽ, bộc trực không chịu cúi luồn. Người thày đầu tiên của Phan Khôi là Trần Qúy Cáp. Chính con người thông minh lỗi lạc, ý chí kiên cường nhất huyện Điện Bàn này đã truyền cho Phan Khôi tri thức và lòng yêu nước nồng nàn. Năm 1906, mười chín tuổi, Phan Khôi tốt nghiệp tú tài, và hai năm sau, 1908 ông phải chứng kiến cái chết chém ngang lưng của thầy mình. “Lòng căm thù như ngọn lửa đốt cháy trái tim” Phan Khôi quyết nối bước thày, tham gia phong trào Duy Tân,theo các cụ Phan Chu Chinh, Phan Bội Châu, Huỳnh Thúc Kháng chống thực dân Pháp.Ông bị bắt giam gần một năm rồi được tha. Ông quyết định dùng ngòi bút và nghề báo đề chiến đấu. Phan Khôi kiến thức uyên bác, hiểu biết vô cùng phong phú, tầm hoạt động rộng lớn, đa phương trong sự biến thiên của lịch sử . Chưa ai có thể tổng kết được thân thế sự nghiệp Phan Khôi, nhưng theo nhà nghiên cứu Lại Nguyên Ân, thì : “ Phan Khôi hiện diện trước xã hội, trước cuộc đời này chỉ với tư cách nhà báo; người ta biết ông chủ yếu qua những gì ông viết ra đăng lên báo chí, nhưng, qua hoạt động báo chí, Phan Khôi chứng tỏ mình còn là một học giả, một nhà tư tưởng, một nhà văn. Phan Khôi là nhà tư tưởng đã đặt ra hàng loạt vấn đề : phê phán Khổng giáo, tiếp nhận tư tưởng Âu Tây, nữ quyền. Ông cũng là một nhà Hán học và Trung quốc học am hiểu những vấn để của xã hội Trung quốc đương thời, ông là một dịch giả đã dịch Kinh Thánh của đạo Thiên chúa ra tiếng Việt , một nhà Việt ngữ học cả ở phần lý thuyết lẫn thực hành, một nhà văn xuôi với thể hài đàm và một nhà phê bình văn học .Có thể nói Phan Khôi là người thể hiện rõ nhất
và thành công nhất chủ trương duy tân kiểu Phan Chu Trinh vào đời sống, nhưng khác với người tiền bối ấy, Phan Khôi hoàn toàn không thể hiện mình như một chí sĩ, ông sống như một người thường trong đời thường, chỉ hoạt động chuyên nghiệp như một nhà ngôn luận, chỉ tác động đến xã hội bằng ngôn luận. Phan Khôi thuộc trong số những trí thức hàng đầu có công tạo ra mặt bằng trí thức và văn hóa cho xã hội Việt Nam những năm đầu thế kỷ XX ,nhưng đặt bên cạnh những gương mặt sáng láng như Nguyễn Văn Vĩnh, Pham Quỳnh, Trần Trọng Kim, Huỳnh Thúc Kháng...ông thường tự thể hiện như kẻ phản biện, và sự phản biện của ông thường đem lại chiều sâu mới cho trí thức!” Phan Khôi là một trong những nạn nhân của của “ Cuộc đấu tranh chống Nhân Văn- Giai Phẩm” bắt đầu từ năm 1957. Tuy ông không phải đi tù như Nguyễn Hữu Đang, Thụy An, nhưng ông đày đọa khổ sở còn hơn tù. Ngày 16-1-1959, ông đã ra đi vĩnh viễn thoát khỏi sự đọa đày đó. Năm 2004, trên các báo Nhân Dân, Quân Đội Nhân Dân, Tiền Phong, Người Hà Nội, lần lượt đăng bài phỏng vấn nhà thơ Tố Hữu của Nhật Hoa Khanh. Theo những bài báo đó, năm 1997, tại 76 Phan Đình Phùng ,một trong những biệt thự đẹp nhất Hà Nội, của Pháp để lại , trị giá 7 triệu đô la nhà nước cấp cho Tố Hữu, ông đã ca ngợi hết lời nhóm “Nhân Văn- Giai Phẩm, trong đó có Phan Khôi. Ông nói : “ Trần Đức Thảo là một mẫu mực của lòng say mê nghiên cứu sáng tạo vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Phan Khôi , Trần Dần, Lê Đạt là những trí thức lớn, những cây bút hạng nặng trong đội ngũ trí thức cách mạng!”
Không biết Tố Hữu có nói như vậy thật không? Nghe nói khi đã rời quyền lực ông đã sám hối. Nhưng bà Vũ Thị Thanh, nguyên phó ban tuyên huấn trung ương , phu nhân nhà thơ Tố Hữu thì phủ nhận chuyện đó. Nếu đúng thì nó hoàn toàn mâu thuẫn với bốn mươi năm trước, kể từ 1977 , khi Tố Hữu còn trẻ, nắm trọng trách công tác tư tưởng, văn hóa,văn nghệ của đảng . Ngày ấy ông đã “làm bao nhiêu số phận, bao nhiêu cuộc đời bị rạn vỡ, bị lưu đày”(Phùng Cung). Lời Tố Hữu kết tội Trần Đức Thảo, Phan Khôi và nhóm “Nhân văn-Giai phẩm” sau đây là sự thực, dẫu ma quỷ cũng không thề chối. Tố Hữu đã viết : “ Lật bộ áo “Nhân Văn –Giai Phẩm” thối tha, người ta thấy cả một ổ phản động toàn những gián điệp, mật thám , lưu manh ,Trotkit, địa chủ, tư sản ... quần tụ trong những tổ quỷ với gái điếm, bàn đèn, sách báo phản động, đồi trụy và phim ảnh khiêu dâm...” (Qua cuộc đấu tranh chống nhóm “Nhân Văn-Giai Phâm”, tác giả Tố Hữu, Nhà xuất bản Văn Hóa, 1958, trang 9) Và : “ Trong cái công ty phản động “ Nhân Văn- Giai Phẩm” ấy, thật sự đủ mặt các loại “biệt tính” ,từ bọn Phan Khôi,Trần Duy mật thám cũ của thực dân Pháp đến bọn gián điệp Thụy An; từ bọn Trotkit Trương Tửu , Trần Đức Thảo đến bọn phản Đảng như Nguyễn Hữu Đang, Trần Dần, Lê Đạt. Một đặc điểm chung là hầu hết bọn chúng đều là những phần tử thuộc giai cấp địa chủ, tư sản phản động cố giữ lập trường của giai cấp mình, cố tình chống lại cách mạng và chế độ!” (Trang 17sđd)
Theo chỉ đạo của “Anh Lành” bọn cơ hội nhao vào đánh hội đồng nhóm “Nhân Văn- Giai Phẩm” nói chung, Phan Khôi nói riêng. Phê phán tác phẩm văn học, báo chí chán quay suy diễn, bịa đặt ra đủ thứ chuyện, chà đạp lên cả hương hồn cha mẹ, tổ tiên người ta. Có những việc đổi trắng, thay đen, khi sự thật lịch sử vẫn còn đang sờ sờ trước mắt. Phan Khôi với truyền thống yêu nước cùa gia đình,đã tham gia phong trào chống Pháp từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường, từng bị bắt đi tù mà bảo ông làm mật thám cho Pháp thì trời đất nào chứng? Ông viết hàng ngàn bài báo phê phán chế độ cũ, cổ vũ sự cách tân, bao nhiêu ruộng vườn quê nhà ông hiến hết cho cách mạng, mà bảo ông cố giữ lập trường giai cấp địa chủ , tư sản ?
Sau cách mạng tháng 8-1945, Hồ Chủ tịch trọng tài đức của Phan Khôi, trực tiếp viết thư mời ông ra Hà Nội góp sức xây dựng chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa non trẻ. Phan Khôi đã mang cả gia đình theo cụ Hồ lên chiến khu Việt Bắc, nằm gai nếm mật tham gia kháng chiến suốt mười năm trời. Thế mà khi ông tham gia phong trào “Nhân văn – Giai phẩm” , bị Tố Hữu quy là mật thám thì, nhà văn Nguyễn Công Hoan hùa theo, xuyên tạc rằng Phan Khôi cầm đầu tổ chức Việt Nam quốc dân đảng chống phá cách mạng ở Quảng Nam. Nhà văn đáng kính này viết : “ Hắn phụ trách chi bộ Việt Nam quốc dân đảng Quảng Nam chống phá cách mạng điên cuồng. Sau đó hắn bèn ra Hà Nội họp với Trung ương đảng bộ Việt Nam quốc dân đảng của hắn, để đề nghị một chương trình chống chính phủ!”
Nguyễn Công Hoan luôn dùng từ “hắn” để phỉ báng , mạt sát Phan Khôi : “ Hắn xin vào yết kiến cụ
Huỳnh Thúc Kháng lúc đó là Bộ trưởng nội vụ nhưng cụ không tiếp!”. Năm 1957, Phan Khôi thọ 70 tuổi, Nguyễn Công Hoan làm bài thơ “mừng” (!) người bạn văn chương như sau:
Nhà báo Phan Khôi khốn kiếp ơi!
Thọ mi mi chúc chớ hòng ai,
Văn chương! Đù mẹ thằng cha bạc!
Tiết thào! Tiên sư cái mẽ ngoài!
Lô-gich trước cam làm kiếp chó,
Nhân văn nay lại hít gì voi!
Sống dai thêm tuồi cho thêm nhục!
Thêm nhục cơm trời chẳng biết gai!
Có thể nào ngờ đó là thơ của tác giả “Bước đường cùng” và “ Kép Tư Bền”? Qủa thật công tác tư tưởng của ông Trường Chinh và công tác tuyên huấn của ôngTố Hữu quá tài tình! Họ đã biến nhà nho Nguyễn Công Hoan thành một kẻ bỗ bã đểu cáng đáng khinh bỉ. Mà đâu chỉ một mình Nguyễn Công Hoan? Đào Vũ, Tế Hanh, Chế Lan đều như vậy. Phan Khôi hai đời vợ, bà trước tám người con bỏ mất một còn 7, bà sau được 3, tổng cộng 10 người con. Ông có bài thơ tức cảnh gia đình mình như sau:
Hai nhà cộng lại có mười con
Năm gái năm trai nhắm cũng tròn
Gả, cưới tạm yên nguyền một nửa
Sữa răng riêng mũi máu ba hòn
Tự trào thôi hẳn còn chia rẽ
Nhân cách vẫn mong được vẹn tròn
Bé nhất Lang Sa mới ba tuổi
Tên này ghi cái nhục sông non
Năm 1956 sang Trung Quốc dự kỷ niệm 100 năm Lỗ Tấn cùng với Tế Hanh, Phan Khôi đọc cho Tế Hanh nghe, và nói: “Tôi đặt tên thằng này là Lang Sa, để nhớ cái hận thực dân Pháp!”. Mà ngay trong bài thơ tác giả đã nói rõ ý đó rồi còn gì. Vậy hai năm sau, khi Phan Khôi bị đánh thì Tế Hanh bịa ra chuyện thế này: “Trong chuyến đi Trung Quốc, Phan Khôi nói với tôi, thằng này sinh ngày 9-3-1945, ngày Nhật đảo chính Pháp, tôi đặt tên nó để cho những người nào vui mừng việc Nhật lật đổ Pháp biết tay. Pháp sẽ trở lại cho coi”. Và Tế Hanh kết tội Phan Khôi: “Phan Khôi đã đáp lại lòng thù ghét của nhân dân ta đối với thực dân Pháp như thế. Chỉ có một ‘tâm hồn vong bản’ loại Phan Khôi mới mong Pháp quay trở lại!”. Chế Lan Viên thì có lần chỉ thẳng tay vào mặt
Phan Khôi quát: “Đừng cậy già mà láo!”. Còn Đoàn Giỏi thì vu cho Phan Khôi nói xấu đảng, Bác Hồ vì gọi cây cứt lợn là cây “cộng sản”!
Sự xuyên tạc, vu khống, nhục mạ được cất lên từ miệng những người được coi là hiền lành tử tế như thế mới kinh khủng làm sao. Ông Phan Lang Sa tâm sự: “Khổ tâm nhất là anh Phan Thao. Anh ấy trong Ban biên tập báo Nhân Dân mà ngày nào cũng phải nghe , phải đọc những lời nhục mạ vu khống cha mình!” Không chịu nổi , Phan Thao phải xin từ nhiệm và Phan Lang Sa phài đổi tên thành Phan An. “Xin cầu lấy sự bình an!” Cụ Phan Khôi bị đuổi khỏi ngôi nhà 51 Trần Hưng Đạo nơi cụ ở từ năm 1955. Đuổi,tôi dùng đúng nghĩa đen. Trần Duy kể: Một hôm tôi 51 Trần Hưng Đạo thì gặp một quan chức có quyền lực chỉ vào Phan Khôi
quát:
- Tống cổ thằng già này ra khỏi đây!
Phan Khôi lảo đảo bước ra cổng. Vợ ông, bà Huệ ôm chăn mền , sách vở. Gặp tôi ông Phan Khôi bảo :
- Thôi, anh về đi. Buồn không cần thiết!”
Gia đình Phan Khôi bị đuổi khỏi 51 Trần Hưng Đạo , phải dọn về số 10 Nguyễn Thượng Hiền. Rồi lại bị đuổi, phải dọn tới 73 phố Thuốc Bắc. Bà Bích Thủy , con gái nhà thơ Yến Lan, tả chỗ ở mới cùa gia đình cụ Phan Khôi như sau : “Gia đình tôi ở phía dưới, giữa 5 gia đình khác, kế vách là gia đình cụ Khôi. Phía ngoài cầu thang của hộ bà Cán, đến bể nước công cộng.Căn dành cho gia đình cụ là một cái buồng 9 m2, bằng 3/4 căn nhà tôi, có thể đấy là nơi thờ cúng của chủ trước. Giữa nhà tôi và nhà cụ là một hẻm nhỏ , to bằng cái bàn cờ tướng. Tôi thường ngồi cạnh cửa sổ nhà cụ giặt giũ”
Căn nhà cụ Phan Khôi vắng lặng , xét nét , xa lạ không ai lui tới vì cụ bị coi là cầm đầu nhóm Nhân
văn- Giai phẩm. Cụ vốn gầy yếu, bị hành hạ sức khỏe càng suy sụp. Nhiều lần cụ xin đi khám bệnh nhưng không ai ký giấy cho đi khám đành phải chịu. Cụ thường ôm ngực ho từng cơn, và chống gậy ra giếng nước công cộng rửa chân lúc xế chiều. Rồi cái buổi chiều mùa đông rét mướt 16-1-1959 đó, người chung nhà không nhìn thấy cụ Phan Khôi. Đó là lúc cụ nằm úp mặt vào tường, ho cơn ho cuối cùng, thổ những giọt máu tươi ra quyển sách đang đọc dở trên tay. Chiếc xe ngựa chở chiếc quan tài phủ bạt lăn bánh nghiêng ngả ra nghĩa địa Hợp Thiện phía Đông Hà Nội. Đưa cụ đến nơi an nghỉ cuối cùng chỉ có vợ con cụ và nhà thơ Yến Lan tác giả “ Bến Mi Lăng”. Bà Bích Thủy, con gái nhà thơ Yến Lan kể lại:
“Sáng hôm sau nghe người ta nói, có thằng cha nhà thơ
nào đó dám cả gan đưa đám Phan Khôi. Ba tôi bảo đó là đạo lý của người Việt, nghĩa tử là nghĩa tận!”. Một nấm mồ nông vùi người con Quảng Nam nơi đất Bắc, trên đơn sơ một mảnh ván viết hai chữ Chương Dân.Năm tháng qua đi nấm mộ ấy chìm trong cỏ dại và xương cốt cụ Phan Khôi phiêu bạt nơi nào không biết nữa. Vừa qua con cháu cụ đành gói một nắm đất về đặt trong lòng ngôi “mộ gió” ở quê nhà. Hơn nửa thế kỷ qua,bây giờ người ta đã nhìn nhận, đánh giá một cách công bằng, trả lại danh dự cho những trí thức, nhà văn, nhà thơ trong phong trào Nhân văn - Giai phẩm. Hầu hết những nhà văn, nhà thơ, và trí
thức trong nhóm Nhân văn –Giai phẩm đã được nhận giải thưởng, nói như nhà thơ Trần Mạnh Hảo, là để tạ
lỗi. Nhưng cụ Phan Khôi vẫn bị lãng quên. Tôi không hiểu đàng sau đó có những lý do gì, mà đồng hương xứ Quàng (ông Tế hanh ở Quảng Ngãi), cùng tập kết ra Bắc, nhưng "Nhớ con sông quê hương" đến mức nào, nhớ kiểu gì, mà lại cố tình nói điêu, 'nâng quan điểm', ám hại ông Phan Khôi (Quáng Nam) 'báo cáo cấp trên' quy chụp, bịa chuyện: "Chỉ có một ‘tâm hồn vong bản’ loại Phan Khôi...". Nay, người ta thương tiếc, cảm phục Phan Khôi, ít ai nhắc tới Tế Hanh! Với thân thế và sự nghiệp của cụ, với những tác phẩm báo chí và văn học đã tái xuất bản trong những năm gần đấy, cụ xứng đáng nhận giải thưởng hơn rất xã hội minh bạch đã ghi nhận.
M.D

MINH DIỆN KHÔNG ĐƯỢC XUYÊN TẠC VÀ BỊA ĐẶT
(Bài viết của Phan An Sa-Con út cụ Phan Khôi) 

Khi đọc cái tựa bài viết Sao lại “tâm hồn vong bản”!? của tác giả Minh Diện đăng trên blog Bùi Văn Bồng và được blog Quê choa đăng lại, trong có kèm bức ảnh cuối cùng của Cụ Phan do chính mình cung cấp cho báo chí cách đây mấy năm, thì tôi chú ý ngay vì hiểu là bài này viết về cha mình. Thấy tác giả bài viết là Minh Diện, tôi cứ ngờ ngợ vì nghe quen quen, nhưng chịu, không nhớ ra là ai. Vì đó, bài viết này của Minh Diện thu hút ngay sự chú ý của tôi.Nhưng thật là bất ngờ, tôi hoàn toàn thất vọng vì ông Minh Diện đã xuyên tạc và bịa đặt quá nhiều sự việc thuộc về lịch sử có liên quan đến cha tôi. Dụng ý không trong sáng của tác giả thì đã rõ, nhưng tội nghiệp là tội nghiệp cho 38 cái comment của độc giả, vì không biết thực hư thế nào, nên đã tỏ ra hưởng ứng với tác giả.

Viết bài này, tôi hướng đến đông đảo độc giả, chứ tuyệt đối không có ý tranh luận với tác giả bài viết, vì tôi không đủ thì giờ để làm việc đó. Độc giả đã đọc bài của ông Minh Diện, nay độc giả lại đọc bài của tôi, và tự họ làm phép so sánh. Và đương nhiên rồi, trong mọi trường hợp tương tự, thì chân lý chỉ có một!
Tác giả đã tìm được cách để đi thẳng vào lòng độc giả khi mở đầu bài viết của mình bằng một đoạn văn lâm li, bi ai, chỉ tiếc rằng đoạn văn ngắn đó có quá nhiều sai sót:
Quan tài cha tôi đặt trên chiếc xe song mã màu đen. Đó là loại quan tài xấu nhất được mua phân phối giá hai đồng bảy hào năm xu. Sáu mảnh gỗ tạp, bào qua loa, không sơn phết, tấm thiên, tấm địa và bốn góc đều hở. Trên nóc quan tài chỉ có ba nén nhang cắm vào quả trứng luộc để trong chén cơm…
Ngoài con ngựa kéo xe, chỉ có 10 người đưa đám, kể cả hai nhân viên dịch vụ mai táng và người đánh xe ngựa. Người bạn, người đồng nghiệp duy nhất của cha tôi là nhà thơ Yến Lan, còn lại là người trong gia đình. Chúng tôi bấu víu vào nhau, đẩy chiếc xe ngựa lăn bánh chậm chạp ra khỏi con hẻm, đi về hướng Đông… 
Mẹ tôi bảo dừng lại một phút cho cha tôi chào Hà Nội một lần cuối. Mẹ tôi và chúng tôi thay mặt cha tôi quỳ xuống lạy ba lạy”.
Trước hết, tác giả phải trả lời độc giả: rằng mình đã hỏi chuyện ai trong số những người con của Cụ Phan? Ai là người đứng ngôi thứ nhất, xưng tôi trong đoạn văn trên, để kể với tác giả những điều xằng bậy như vậy? Chắc chắn là tác giả không thể trả lời được câu hỏi này, vì đó là tác giả bịa ra, chứ trong số các con ông, không có ai tiếp chuyện với tác giả theo kiểu ấy cả.
Độc giả cũng nên nhận chân một sự thật, là chỉ một đoạn văn ngắn như trên, đã dày đặc những chi tiết bịa tạc của tác giả, và tiếc thay, những chi tiết bịa tạc này lại rất dễ chiếm được lòng tin của độc giả. Tôi sẽ chỉ ra các chi tiết đó:
So với các loại quan tài sơn son thếp vàng ngày nay, thì hồi ấy, cái quan tài mộc mạc và đơn sơ thật, nhưng nhất quyết đó không phải là loại quan tài xấu nhất, như tác giả viết có dụng ý. Trước đó hai mươi năm,vào năm 1939, chú họ tôi là Phan Thanh qua đời, đám tang ông lớn nhất Hà Nội thời bấy giờ, cũng chỉ dùng loại quan tài mộc như vậy. Tập quán ngày đó là vậy, chứ không hề có ý phân biệt nhân thân người quá cố, như ẩn ý của tác giả.
Rồi cái chi tiết được mua phân phối giá hai đồng bảy hào năm xu, thì tác giả lấy ở đâu ra? Nếu vẫn là từ miệng một người con của Cụ Phan, như ý đồ của tác giả muốn độc giả hiểu như vậy, thì sự dối trá của tác giả không còn chỗ để trắng trợn hơn. Xin nói cho nhanh: ngày Cụ Phan qua đời, miền Bắc vẫn sử dụng tiền giấy Ngân hàng Quốc gia Việt Nam phát hành trong cuộc đổi tiền lần thứ hai, ngày 6/5/1951 trên Việt Bắc, tính bằng chục đồng, trăm đồng, ngàn đồng; ví dụ bát phở chín giá 200 đồng, phở tái 250 đồng, sốt vang 300 đồng. Sau khi Cụ Phan qua đời, đến tháng 2/1959 mới đổi tiền lần thứ ba: 1 đồng Ngân hàng mới, ăn 1000 đồng Ngân hàng cũ, lúc đó mới tính bằng đồng, hào, xu. Vậy thì ngày Ông Cụ mất, lấy đâu ra cái giá hai đồng bảy hào năm xu?
Trên nóc quan tài chỉ có ba nén nhang cắm vào quả trứng luộc để trong chén cơm, là tác giả đem cái hiểu biết sơ đẳng về một đám tang của người Việt mà gắn vào, chứ tôi là con Ông Cụ, sau hơn nửa thế kỷ, đã không còn nhớ nổi là có hay không cái chi tiết ấy? Mười phần, thì chín phần tôi tin là không có, vì chúng tôi là gia đình miền Nam tập kết những năm 1954-1955, các anh chị lớn trong nhà đứng ra làm tang cho cha đều là cán bộ, đảng viên, mà những người này thì làm việc gì cũng nhất nhất tuân theo quy định của tổ chức, họ sẵn sàng bỏ qua cả phong tục tập quán nếu nó không phù hợp với các quy định ấy.
Ngoài con ngựa kéo xe, chỉ có 10 người đưa đám, kể cả hai nhân viên dịch vụ mai táng và người đánh xe ngựa. Độc giả thử nghĩ xem tác giả có mất trí không mà tính ngựa với người vào làm một? Rồi 10 người đưa đám, mà trừ đi hai nhân viên dịch vụ và người đánh xe, rồi trừ đi nhà thơ Yến Lan như tác giả kể đến ở dưới, thì hóa ra gia đình Ông Cụ chỉ có sáu người đi đưa đám thôi ư? Thật là bậy bạ! Độc giả nên biết rằng: ngày ấy, vợ, con, cháu Ông Cụ ở Hà Nội rất đông, trừ một số cháu còn nhỏ quá thì phải để ở nhà do trời hôm đó vừa mưa vừa rét, số còn lại đều đi đưa đông đủ cả. Tác giả, để đạt được ý đồ của mình, đã xúc phạm nặng nề đến thân nhân, gia quyến của Ông Cụ.
Người bạn, người đồng nghiệp duy nhất của cha tôi là nhà thơ Yến Lan. Xin nói luôn, chưa bao giờ nhà thơ Yến Lan là bạn của Ông Cụ cả, vì nhà thơ sinh năm 1916, chỉ đáng tuổi các con thứ của Ông Cụ, lại tập kết từ trong Nam ra, còn Ông Cụ ở Việt Bắc về, họ quen nhau lúc nào mà gọi là bạn? Cái chi tiết nhà thơ Yến Lan có đi đưa đám là do con gái nhà thơ, chị Lâm Bích Thủy, mấy năm trước có kể lại trong một mẩu hồi ký, rồi tác giả lấy cài vào bài viết của mình, nhưng lại dẫn ra như lời kể từ miệng một người con của Ông Cụ. Trong cuốn Nắng được thì cứ nắng của tôi, về việc này, ở trang 624 có viết: “Nhiều chục năm sau, khi tên tuổi ông được nhắc nhở trở lại, các tác phẩm của ông được tái bản và xuất bản ngày một nhiều, thì có người kể lại rằng mình có dự đám tang ông ngày ấy. Nhưng theo trí nhớ của các con ông, thì ngày ấy, đám tang ông và cuộc đưa tiễn ông đến nơi an nghỉ cuối cùng, chỉ có vợ và con cháu của ông, tất cả khoảng hai mươi người”. Xin độc giả biết cho, đây mới là sự thật!
Chúng tôi bấu víu vào nhau, đẩy chiếc xe ngựa lăn bánh chậm chạp ra khỏi con hẻm, đi về hướng Đông. Chúng tôi là các con cháu của Ông Cụ, ngày ấy có thừa sức khỏe và tinh thần để lo đám tang cho cha ông mình theo cách chu toàn nhất có thể, thì tại sao lại phải bấu víu vào nhau như một đám thân tàn ma dại, thất tha thất thểu, để đến nỗi tác giả phải viết như vậy? Còn chiếc xe tang song mã di chuyển theo tốc độ nào cho phù hợp với một đám tang là bởi tay nghề điều khiển của người xà ích đối với đôi song mã, hà cớ gì mà chúng tôi lại phải đẩy chiếc xe ngựa lăn bánh ra khỏi con hẻm…? Và ông Minh Diện phải trả lời sòng phẳng với độc giả điều này: tại khu vực có số nhà 73 phố Thuốc Bắc, ông hãy chỉ cho thiên hạ xem ở đó có con hẻm nào không?, và cái con hẻm ông nói, là con hẻm nào? Còn trường hợp ông thú nhận không phân biệt nổi một con hẻm với một con phố, thì xin lỗi, tôi miễn bàn. Chưa hết:
Mẹ tôi bảo dừng lại một phút cho cha tôi chào Hà Nội một lần cuối. Mẹ tôi và chúng tôi thay mặt cha tôi quỳ xuống lạy ba lạy… Đây lại là một chi tiết bịa đặt lố bịch. Trong gia đình, chúng tôi có hai bà mẹ, ông Minh Diện nói mẹ tôi là định nói bà mẹ nào: bà cả hay bà hai? Sau vụ Nhân Văn - Giai Phẩm, Cụ Phan chết trong tình cảnh bị thời cuộc ghẻ lạnh. Bản thân Cụ, khi con cái tới thăm Cụ còn không buồn tiếp chuyện, và Cụ chọn cách quay mặt vào tường, tức là quay lưng lại với thế sự, để nhắm mắt xuôi tay, thì hà cớ gì chúng tôi lại làm cái việc ngược đời là dừng lại một phút để cha tôi chào Hà Nội một lần cuối? Rồi còn: Mẹ tôi và chúng tôi thay mặt cha tôi quỳ xuống lạy ba lạy, thì tôi quyết là ông Minh Diện mắc chứng thần kinh! Ông hãy trả lời độc giả: ví dụ cha ông chết trong sự phẫn chí, mà ông lại thay mặt cha ông làm cái việc ngu xuẩn đó, thì giả dụ trời cho cha ông sống lại, thử hỏi cha ông có vùng dậy đạp vào mặt ông mấy cái cùng với lời rủa sả thằng con vừa ngu vừa bất hiếu không? Và hỏi ông tiếp câu này: quỳ xuống lạy ba lạy, là quỳ giữa đường à? Tại sao lại phải quỳ, phải lạy? Và lạy ai???
Ông còn viết: Ông Phan An vừa lom khom chậm rãi bước vào trong con hẻm phố Thuốc Bắc. Và tiếp: Một lần nữa ông Phan An lại từ Đà Nẵng ra Hà Nội, tìm về căn nhà số 73 hẻm phố này, nơi cha ông đã sống những ngày cuối cùng. Ông Minh Diện phải trả lời độc giả lần nữa, rằng: Phan An là ai? Trong số những người con trai còn sống của Cụ Phan, ông hãy chỉ ra ai là Phan An? Theo cách ông nói tiếp ở đoạn dưới: Ông Phan Lang Sa tâm sự: Khổ tâm nhất là anh Phan Thao. Anh ấy trong Ban biên tập báo Nhân Dân mà ngày nào cũng phải nghe, phải đọc những lời nhục mạ, vu khống cha mình. Không chịu nổi, Phan Thao phải xin từ nhiệm và Phan Lang Sa phải đổi tên thành Phan An, thì tôi hiểu là ông đang nói về tôi, người đang đối diện với ông trước bài viết này. Thế là ông đụng hàng rồi, phải không ông Minh Diện!?
Xin nói để độc giả biết, sau khi cha tôi qua đời, cuộc sống nội trú tập thể của tôi gặp nhiều trắc trở vì cái tên cha mẹ đặt cho, thầy Hiệu trưởng lo cái tên của tôi cứ như chọc vào mắt các nhà tổ chức nhân sự, nên xin với Chủ tịch tỉnh đổi tên tôi từ Phan Lang sa (viết và đọc theo lối Pháp) thành ra Phan An Sa, và tôi dùng nó đến tận bây giờ. Trong gia đình Cụ Phan không có ai Phan An là con Cụ cả. Ông Minh Diện nên nhớ rằng: tôi chưa gặp ông, chưa biết ông, nên không bao giờ có chuyện tôi tâm sự, ông không nói là tâm sự với ai, nhưng đọc lên thì phải hiểu là tâm sự với ông, mà đâu phải chỉ tâm sự một chuyện này, mà tâm sự suốt từ đầu bài viết của ông kia. Cũng nói để ông Minh Diện biết luôn: tôi tập kết ra Bắc năm 1955 lúc mười tuổi, trừ hai năm học ở Trung Quốc và năm năm vác súng vào chiến trường, thời gian còn lại tôi ở Hà Nội, hộ khẩu Hà Nội, và chắc là cả cho tới khi “đi Văn Điển” vẫn hộ khẩu Hà Nội. Vậy, cái người mà ông gọi là Phan An đó lại từ Đà Nẵng ra Hà Nội, là Phan An nào, và Phan An ra Hà Nội lúc nào? Còn anh Phan Thao của tôi thì không bao giờ xin từ nhiệm chức vụ ở báo Nhân Dân cả, anh về báo Thống Nhất là bởi tờ báo này mới thành lập để phục vụ cho công cuộc đấu tranh thống nhất đất nước và nó cần có anh, thế thôi!
Ông còn viết: Tuy ông, tức Cụ Phan, không phải đi tù như Nguyễn Hữu Đang, Thụy An, nhưng ông bị đày đọa khổ sở còn hơn tù. Viết thế, ông Minh Diện không sợ người ta bảo là vu khống sao? Người ta sẽ hỏi ông: đày đọa khổ sở còn hơn tù là đày đọa thế nào? Hãy nói cho cụ thể các hình thức đày đọa và hậu quả mà nạn nhân phải chịu? Hỏi thế là ông bí, phải không ông Minh Diện? Ông liều thật đấy, đâu phải cứ chuyện đã lùi xa nửa thế kỷ, thì muốn nói thế nào cũng được. Ở thời điểm hơn năm chục năm trước, người ta cố la thật to là Ông Cụ phản động để kiếm cớ khai trừ Ông Cụ khỏi Hội Nhà văn, chuyển chỗ ở của Ông Cụ về nơi tồi tệ hơn, chứ Ông Cụ vẫn lãnh lương, vẫn có người phục vụ, vẫn tự do đi lại, vẫn đọc báo hàng ngày, vẫn viết và ghi chép bất cứ thứ gì Ông Cụ muốn, và được vợ, con chăm sóc. Rơi vào tình cảnh oan khiên như Cụ Phan lúc đó, thì ai mà chẳng đau đời, nhưng nói đày đọa khổ sở còn hơn tù, như cách ông Minh Diện nói, là ngoa ngôn, lý tình đều không được.
Tả về hình ảnh Cụ Phan lúc lâm chung, ông Minh Diện đã dựng nên một cảnh tượng thật hãi hùng: Đó là lúc cụ nằm úp mặt vào tường, ho cơn ho cuối cùng, thổ những giọt máu tươi ra quyển sách đang đọc dở trên tay. Ông Minh Diện, ông lấy đâu ra những chi tiết ấy? Thổ huyết thì chỉ những người ho lao thôi, Cụ Phan không ho lao. Phút lâm chung, Cụ vẫn nói một lời cuối: Thế - sự - nó- là - thế! để trả lời bà vợ hai và người con dâu trưởng là tại sao Cụ lại quay mặt vào tường? Lúc đó Cụ đã mấy ngày không đọc được sách nữa rồi, tức là cũng không có quyển sách nào đang đọc dở trên tay hết.
Một nấm mồ nông vùi người con Quảng Nam nơi đất Bắc, trên đơn sơ một mảnh ván viết hai chữ Chương Dân. Đến nấm mồ của người quá cố, ông Minh Diện cũng không tha bôi bác. Chuyện đào huyệt là chuyện của nghĩa trang, có quy cách, không thể tùy tiện, vì vậy cái huyệt nào chẳng giống cái huyệt nào. Vậy hà cớ gì ông Minh Diện lại khoét ra cái chuyện nông, sâu ở đây? Và tại sao ông dám liều mạng viết: trên đơn sơ một tấm ván viết hai chữ Chương Dân? Trong khi sự thật về tấm bia mộ thì như tôi đã viết trong cuốn sách của mình, ở trang 621- 622: “Nơi chân mộ là một tấm bia bằng đá bề ngang khoảng hai mươi phân, bề dài gần bốn mươi phân, để còn chôn phần chân bia xuống đất, lưng bia còn hằn những vết đẽo thô ráp khum khum dày lên ở chính giữa. Tấm bia cho người ta cái cảm giác nó nhỏ đến mức không thể nhỏ hơn được nữa, nhìn sang các mộ bên cạnh, cũng rặt một thứ bia nhỏ như thế cả. Mặt trước của tấm bia nhẵn, khắc chìm hai dòng chữ đơn sơ Cụ Chương Dân, mất ngày 16-1- 1959; không có quê quán, không nơi cư trú. Với một tấm bia đơn sơ như thế, dễ chừng, nếu không phải là người trong gia đình, khó mà biết ai nằm dưới mộ!”. Viết như vậy, dù nghe nó có thê lương đến mấy, thì cũng phải viết, vì nó là sự thật. Nhưng tuyệt đối không được viết theo cách vừa sai sự thật, vừa bôi bác và đầy ẩn ý xấu, như ông Minh Diện đã viết.
Tóm lại, ông Minh Diện, kể ra ông viết tiểu thuyết thì không sao, ông bịa thế nào cũng được, miễn là được độc giả tin. Đằng này ông thuật lại sự thật đoạn cuối cuộc đời của một một nhân vật lịch sử như Cụ Phan, mà ông bịa tạc đến như thế, thì tâm địa ông là cái tâm địa gì? Ông định đánh lừa độc giả chăng? Đừng, tội sẽ lớn lắm đó!
Tôi có cảm nhận: hình như ông Minh Diện đã đọc cuốn sách nói trên của tôi và ông cũng đã xem bộ phim tài liệu Con mắt còn có đuôi của NSƯT Huỳnh Hùng, tóm tắt về cuộc đời Cụ Phan, là bộ phim đã nhận được hai Giải thưởng Toàn quốc, đầu tiên do Đài PTTH Đà Nẵng phát sóng, rồi tiếp đến là các kênh truyền hình Trung ương như ANTV của Công an Nhân dân, VOV của Đài Tiếng nói Việt Nam phát sóng nhiều lần, rất được hoan nghênh. Ông Minh Diện nhặt nhạnh mỗi nơi một tý rồi chắp nối lại cốt thể hiện cho được ý đồ riêng của mình. Cái cách ông Minh Diện đã làm không mấy sạch sẽ và dễ nhận ra lắm. Cuốn sách của tôi có bốn phần, thì tôi dùng nguyên hai phần cuối để nói về giai đoạn năm 1954 Ông Cụ từ Việt Bắc trở về Hà Nội cho đến khi qua đời và những hệ lụy kéo dài cho đến những năm tháng gần đây. Chính ông Minh Diện đã rút tỉa một số chi tiết từ các trang sách đó, của bộ phim đó, rồi thêm lời lẽ của mình vào, để viết thành bài Sao lại “tâm hồn vong bản”!? mà tôi đang phải bàn đến ở đây. Trong hai phần này của cuốn sách, tôi tỏ thái độ phản đối cái cách người ta đã đối xử với Cụ Phan và những người như Cụ hơn năm mươi năm về trước, nhưng tôi căn cứ trên sự thật mà phản đối, tôi không nói thêm, không làm xô lệch sự thật. Ông Minh Diện nên nhớ: bình sinh Cụ Phan chỉ tôn thờ sự thật và tự do, trong đó cao hơn hết là tự do tư tưởng. Ông nói sai sự thật về Cụ, thì là ông xiển dương Cụ hay làm Cụ đau lòng vì một kẻ hậu sinh không biết tôn trọng sự thật?
Về tiểu sử Cụ Phan, sự nhầm lẫn của ông Minh Diện, không biết do cố tình hay do cẩu thả, cũng không thể không nhắc đến.
Phan Khôi với truyền thống yêu nước của gia đình, đã tham gia phong trào chống Pháp từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường. Xin nói rõ với độc giả, Cụ Phan không học ở bất cứ trường nào cả, nên không thế nói trên ghế nhà trường được. Ở tuổi thiếu niên và thanh niên, Ông Cụ được học chữ Hán với cụ Trần Quý Cáp trong mười năm, ngay tại nhà cụ Trần, học trò ngồi lê trên những tấm ván kê khắp mấy gian nhà, gặp ngày thi thì cả trăm học trò ngồi tràn cả ra thềm, ra sân và ra cả các bụi chuối ngoài vườn. Cũng không phải Ông Cụ đã tham gia phong trào chống Pháp ngay từ hồi đi học, như Minh Diện viết, mà Ông Cụ chỉ tham gia hoạt động cách mạng từ sau khi thi đỗ tú tài năm 19 tuổi, dưới sự dẫn dắt trực tiếp của chí sĩ Phan Châu Trinh.
Sau Cách mạng tháng 8-1945, Hồ Chủ tịch trọng tài đức của Phan Khôi, trực tiếp viết thư mời ông ra Hà Nội góp sức xây dựng chính phủ Việt Năm Dân chủ Cộng hòa. Viết như thế cũng lại sai nốt. Sự thật là: tháng 6 năm 1946, Ông Cụ nhận được Giấy mời của Chính phủ do Bộ trưởng Bộ Nội vụ Huỳnh Thúc Kháng ký, với nội dung ra Hà Nội dự Hội nghị Văn hóa Toàn quốc Lần thứ nhất, rồi từ Hà Nội, sau ngày Toàn quốc Kháng chiến 19/12/1946, ông tìm đường lên Việt Bắc.
Thân phụ ông là Phan Trần. Viết thế là sai, đúng, phải là Phan Trân.
Chú ruột Phan Khôi là Phan Dinh, cha của nhà cách mạng Phan Thanh, Phan Bôi. Cũng sai, đúng, phải là Phan Định.
Người thầy đầu tiên của Phan Khôi là Trần Quý Cáp. Năm 1908 ông phải chứng kiến cái chết chém ngang lưng của thầy mình. Lại một sự suy diễn vô lối của tác giả Minh Diện. Sự thật là: đầu năm 1908, sau khi vụ xin xâu nổ ra quyết liệt ở Quảng Nam và các tỉnh miền Trung, thì Phan Khôi bị thực dân Pháp bắt tại Hà Nội, dẫn về Quảng Nam kêu án ba năm tù, giam tại nhà lao Hội An. Cũng như vậy, Trần Quý Cáp đang làm chức giáo thọ ở huyện Ninh Hòa (Khánh Hòa) cũng bị bắt và không lâu sau bị xử chém tại đó. Một người thụ án trong nhà lao Hội An, làm cách nào để chứng kiến cảnh xử chém thầy giáo của mình ở Khánh Hòa? Cái này xin để ông Minh Diện trả lời độc giả vậy!

                                                                                                             21-9-2013

                                                                                                           Phan An Sa

25 tháng 3 2018

HOAN HÔ BỘ TRƯỞNG GIÁO DỤC BỎ CHỦ TRƯƠNG BẮT BUỘC GIÁO VIÊN LÀM SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM


Nhân có ý kiến của bộ trưởng Giáo dục về  việc “Bộ chính thức không bắt buộc giáo viên làm sáng kiến kinh nghiệm”. Mõ tôi xin có mấy lời bình như sau:
          Lâu nay cái “ căn bệnh phong trào” như đã ăn sâu, bám rễ vào tư tưởng của nhiều cấp, nhiều ngành rồi. Vì vậy ở đâu cũng đua nhau “Sáng kiến kinh nghiệm” nở như hoa dại giữa mùa mưa.
          Của đáng tội, tục ngữ đã có câu: “Của rẻ là của ôi; của đầy nồi là của không ngon”. Việc phát huy tính sáng tạo, sáng kiến kinh nghiệm hay đương nhiên là tốt. Nhưng không phải ai, chỗ nào và ở đâu cũng có thể nẩy ra được sáng kiến hay, kinh nghiệm tốt. Điều ấy còn phụ thuộc vào trình độ, khả năng và cả một quá trình khổ công nghiên cứu. Điều cốt yếu là người đưa ra sáng kiến phải thực sự có niềm đam mê tâm huyết, chứ không phải cứ thúc ép mà thành. Vì vậy, việc áp đặt cho mọi người đều phải làm sáng kiến kinh nghiệm thì cái hay, cái tốt đâu chưa thấy, nhỡn tiền là đẻ ra không ít cái dở hơi!.
          Mấy năm qua cũng vì  sức ép từ các nhà quản lý, mọi người đều phải cố mà nặn ra sáng kiến, trước là để đáp ứng yêu cầu và sau là “không thua chị, kém em”. Vì cố để có một cái gì đó được gọi là sáng kiến, cho nên phần nhiều chưa thấy sáng ở đâu, có khi áp dụng vào thực tiễn nó lại thành tối kiến mới buồn.
          Cách đây không lâu, để đồng cảm với cái khổ của người dân vì các sáng kiến. Mõ tôi cũng đã viết mấy vần thơ, nay xin được đăng lại để cộng đồng mạng cùng chiêm nghiệm:
MỘT THỜI SÁNG KIẾN
Để thành chiến sĩ thi đua
Phải chưng sáng kiến, chẳng đùa được đâu
Thế là thiên hạ đua nhau
Nặn ra “sáng kiến” để cầu được khen
Mỗi ngành mỗi kiểu đua chen
Mới thay, cũ đổi đảo điên tùng phèo   
Trên hô, dưới phải tuân theo
Triển khai “sáng kiến” cấm kêu, cấm bàn
Làm không được cũng phải làm,
Vẫn là chiếu lệ: Lệnh quan dân tòng!
                 *
Đổi thay nhân sự lòng vòng
Ấy là “luân chuyển”, chuyện không phải bàn!
Từ ngày “sáng kiến” được ban
Cửa quan càng thấy rộn ràng lắm thay
Người đi kẻ ở ai hay?
Tiền tươi, quà biếu càng đầy túi tham.
                  *
Học hành giữa buổi gian nan
Cũng vì sáng kiến phất tràn cung mây
Trẻ thành “chuột bạch” cả bầy
Phụ huynh nhớn nhác, cô - thầy ngẩn ngơ…
                   *
Chuyện nhà chuyện đất bây giờ
Nhiều quy định mới lơ mơ khó lường
Muốn sang đất, phải có đường ­­ ([1])
Mặc cho dân khó chẳng thương, chẳng chờ.
                    *
Mong sao cho đến bao giờ
Trên thôi sáng kiến dân nhờ được chăng?

         Cả Mõ
                                    




[1] Muốn chuyển mục đích đất ở thì đất phải có đủ chiều dài mặt đường theo quy định.

05 tháng 2 2018

NHỮNG NGƯỜI CÒN CHA/ MẸ ĐỪNG BAO GIỜ NÓI VỚI CHA/ MẸ 10 CÂU NÓI SAU ĐÂY


            Đừng bao giờ nói, cho dù chỉ là "lỡ lời".
1. Được rồi, biết rồi, dài dòng quá!
Thật đáng thương cho những người làm cha mẹ trong thiên hạ. Nhiều người không hề nhận ra rằng, sự "dài dòng" của bố mẹ thực ra cũng là một niềm hạnh phúc.
Không ít người đã rất mong bố mẹ có thể nói với mình, nói nhiều bao nhiêu cũng được nhưng ước nguyện đó chẳng bao giờ thành hiện thực.
2. Có việc gì không ạ? Vậy con gác máy đây.
Bố mẹ gọi điện thoại cho con cái, trừ những khi có việc phải thông báo thì phần đông là muốn chuyện trò với con, nghe tiếng con, chúng ta liệu có hiểu được dụng ý này của bố mẹ? Thế nên, dù không có chuyện gì đi nữa, cũng đừng lúc nào cũng vội vã gác máy, khiến cha mẹ trạnh lòng.
3. Có nói bố/mẹ cũng không hiểu, đừng hỏi nữa.
Thực ra, bố mẹ chỉ muốn nói chuyện với con cái mà thôi, ngay cả việc hỏi những chuyện họ không biết, cũng chỉ là cái cớ để bố mẹ - con cái có thể nói chuyện nhiều hơn với nhau.
4. Nói với bố/mẹ bao nhiêu lần rồi là không cần bố/mẹ làm, làm cũng có ra gì đâu.
Với những việc bố mẹ không thể làm, chúng ta cũng vì quan tâm đến bố mẹ mà không muốn họ làm nhưng xin đừng nói nặng lời, bởi như thế, chúng ta sẽ khiến bố mẹ cảm thấy họ là người vô dụng.
5. Quan điểm của bố mẹ bây giờ đã lỗi thời lâu rồi.
Góp ý của bố mẹ có thể bây giờ không áp dụng được hoặc không đem lại hiệu quả nhưng chúng ta có thể thay đổi cách phản ứng của mình hay không? Bố mẹ sẽ rất buồn khi phải đón nhận cách phản ứng gay gắt này của chúng ta đấy.
6. Đã bảo bố/mẹ đừng dọn phòng con nữa mà, bố/mẹ xem, giờ đồ cần tìm chẳng thấy đâu.
Phòng riêng của mình, bản thân minh thu dọn, nếu không thu dọn, cũng đừng làm tổn thương đến lòng tốt, sự quan tâm của các cụ dành cho con cái.
7. Con muốn ăn gì tự con biết, bố mẹ đừng can thiệp.
Bố mẹ mong ngóng chúng ta về ăn cơm, gửi tình yêu, sự quan tâm vào từng món ăn, thế nên, hãy vui vẻ mà hưởng thụ, đừng "nhảy dựng" lên khi mình đang được đối xử quá tốt như vậy.
8. Đã nói không ăn đồ thừa rồi, sao cứ mãi không nghe.
Các cụ cả đời tiết kiệm, đó đã trở thành thói quen khó có thể sửa đổi được. Thế nên nếu bố mẹ dùng lại đồ cũ, hãy nhẹ nhàng nhắc nhở hoặc tìm cách xử lý đồ thừa cho thật hợp lý, tránh nặng lời khiến bố mẹ buồn.
9. Con tự biết tính toán, bố/mẹ nói nhiều thế?
10. Những thứ này đã nói không cần nữa, chất đống ở đây để làm gì chứ!
Những câu nói trên, liệu có ai trong chúng ta chưa bao giờ dùng để nói với bố mẹ mình ?.
                                                                           Theo S.SOHA


09 tháng 12 2017

NHỮNG VI PHẠM "RẤ NGHIÊM TRỌNG" CỦA ÔNG ĐINH LA THĂNG

Thời gian lãnh đạo Tập đoàn Dầu khí Việt Nam, ông Đinh La Thăng đã có những sai phạm trong quản lý tài sản công dẫn tới thất thoát lớn.

Ông Đinh La Thăng (Tại Nghị trường Quốc Hội)
Chiều 8/12, tại Hà Nội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XIV đã họp phiên bất thường, thông qua hai nghị quyết với sự đồng thuận của tất cả Ủy viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội, về việc cho thôi đại biểu Quốc hội đối với ông Đinh La Thăng, nguyên Chủ tịch Hội đồng quản trị (sau này là Hội đồng thành viên) Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam (PVN).
Trước đó, Hội nghị Trung ương lần thứ 5 (ngày 7/5) thông báo quyết định thi hành kỷ luật cảnh cáo và cho thôi chức Ủy viên Bộ Chính trị với ông Đinh La Thăng (Bí thư Thành ủy TP HCM) vì có nhiều vi phạm "rất nghiêm trọng".
Theo báo cáo trình Bộ Chính trị và Ban chấp hành Trung ương của Ủy ban Kiểm tra Trung ương ngày 27/4, Ban thường vụ Đảng ủy Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PVN) giai đoạn 2009-2015 thiếu trách nhiệm trong lãnh đạo, chỉ đạo, buông lỏng công tác kiểm tra, giám sát, quản lý tổ chức đảng, đảng viên dẫn đến nhiều khoản đầu tư của Tập đoàn bị tổn thất, khó thu hồi với tổng số tiền rất lớn.
 Là Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch Hội đồng thành viên PVN từ 2009 đến 2011 nên ông Đinh La Thăng phải chịu trách nhiệm người đứng đầu về những sai phạm của PVN trong giai đoạn này.
Kết luận của Ủy ban Kiểm tra cho hay, ông Thăng đã ký ban hành Nghị quyết số 233 dẫn đến việc Ban tổng giám đốc Tập đoàn và các đơn vị thành viên chỉ định nhiều gói thầu trái pháp luật.
Ông Thăng cũng vi phạm quy chế làm việc khi ký thỏa thuận tham gia góp vốn tại văn bản số 6934 ngày 18/09/2008, giữa ông Đinh La Thăng, Chủ tịch Hội đồng quản trị PVN và Chủ tịch Hội đồng quản trị OceanBank. Nội dung văn bản thể hiện Tập đoàn tham gia góp vốn 20% trở lên; cử cán bộ tham gia quản trị, điều hành; đề nghị các đơn vị thành viên sử dụng dịch vụ của OceanBank, trước khi Hội đồng quản trị Tập đoàn họp thống nhất nội dung trên.
Ông Đinh La Thăng còn chịu trách nhiệm trong việc ban hành Nghị quyết số 4266 góp vốn vượt mức quy định vào OceanBank, trái quy định của Luật các tổ chức tín dụng, gây thiệt hại rất nghiêm trọng cho PVN.
Cựu Chủ tịch PVN cũng chịu trách nhiệm trong việc ban hành một số nghị quyết, quyết định chỉ định nhiều gói thầu với tổng giá trị lớn, vi phạm các nghị định của Chính phủ; tham mưu Thủ tướng cho chỉ định nhiều gói thầu không đảm bảo quy định của pháp luật.
Theo Ủy ban Kiểm tra Trung ương, ông Đinh La Thăng đã chấp thuận cho Tổng công ty xây lắp dầu khí (PVC) thuộc PVN được miễn bảo lãnh thực hiện hợp đồng với công trình, dự án do Tập đoàn chỉ định và chấp thuận cho Tổng công ty cổ phần dịch vụ kỹ thuật dầu khí (PTSC) được miễn bảo lãnh thực hiện hợp đồng thiết kế, mua sắm, xây dựng (EPC) Nhà máy nhiên liệu sinh học Dung Quất, vi phạm Luật đấu thầu năm 2005.
Ông Đinh La Thăng có trách nhiệm trong việc ban hành chủ trương, quyết định đầu tư phân tán, dàn trải; thiếu kiểm tra, giám sát quá trình triển khai các dự án ở thời kỳ ông làm lãnh đạo Tập đoàn, dẫn đến hiệu quả đầu tư thấp; một số dự án phải dừng, giãn, hoãn tiến độ, thua lỗ kéo dài, gây thất thoát, lãng phí, mất vốn đầu tư, gây hậu quả rất nghiêm trọng (trong đó có Dự án Nhà máy sản xuất xơ sợi Polyester Đình Vũ và các dự án nhiên liệu sinh học).
Cho rằng những vi phạm của ông Đinh La Thăng là "rất nghiêm trọng, gây bức xúc trong cán bộ, đảng viên và nhân dân", Ban chấp hành Trung ương Đảng đã bỏ phiếu với tỷ lệ 90% đồng ý kỷ luật cảnh cáo và cho thôi giữ chức Ủy viên Bộ Chính trị khoá XII.
                                                                               Theo báo Thời Đại

29 tháng 11 2017

BÀN THÊM VỀ NHỮNG PHÁT KIẾN VÔ BỔ

             Nhân sự kiện đề nghị thay đổi bảng chữ cái tiếng Việt của PGS-TS Bùi Hiền. Tôi nhớ lại, cách đây hơn 20 năm (Vào khoảng năm 1994) cũng có một cuộc bàn luận khá sôi nổi trên báo Khoa học& Đời sống về vấn đề này.
           Ngày đó, một người có tên Trần Ngọc Sánh (Việt kiều ở Pháp) viết thư về nước đề nghị sửa lại chữ Quốc ngữ. Theo ông ta thì chữ Quốc ngữ có nhiều điểm bất hợp lý như, dùng nhiều phụ âm ghép; phụ âm trùng như: tr, ch, ph; k, c... Nguyên âm trùng như y, i và nhiều dấu (thanh) rắc rối. Nội dung đề xuất của ông này là thay đổi bảng chữ cái theo cách thay thế một số phụ âm ghép bằng phụ âm đơn, bỏ chữ đ thay bằng chữ d, còn chữ d lại thay bằng chữ z...; các dấu thanh thì thay bằng chữ, gần giống như đánh máy chữ trên bàn phím máy tính bây giờ. Kết cục là văn bản viết theo đề xuất của tác giả này tòi ra vô số cái vô lý, đáng kể nhất là con chữ càng rối hơn, viết thành văn bản thì khó mà dịch nổi. Việc đề xuất này sau một hồi thảo luận kéo dài đến 6 tháng trên Báo thì kết thúc. Trong đó có tới trên 95% bài thảo luận là phản đối việc cải cách chữ viết. Các ý kiến tập trung cho rằng, chúng ta cần tự hào vì có một loại chữ viết tiến bộ, hình thức đẹp, kí âm cơ bản được tiếng nói của dân tộc. Còn một vài nhược điểm nho nhỏ như cùng một phụ âm mà dùng đến 2 loại chữ cái như phụ âm K, phụ âm C thì các nước dùng chữ cái La tinh trước chúng ta như Pháp, Anh cũng không tránh khỏi. Thậm chí chữ Pháp còn có trường hợp một phụ âm, nhưng trong các điều kiện khác nhau có thể đọc biến âm, ví dụ: Chữ S đứng giữa 2 nguyên âm thì đọc như âm (Z); chữ C khi đứng sau nó là nguyên (i) thì đọc như âm (S) chẳng hạn. Chữ Quốc ngữ của ta cũng vậy, chữ K đọc như âm (C) chỉ trong trường hợp đứng sau nó là các nguyên âm (i), (e). Ngoài ra nó có vai trò kết hợp với phụ âm (h) để biến đổi thành phụ âm khác. Đó là nguyên tắc chính tả của mỗi nước. Khi nguyên tắc đó đã ổn định thì tốt nhất là không nên thay đổi.
            Cuối cùng Tòa soạn đã đưa ra kết luận, cần giữ nguyên bảng chữ cái và cách viết như hiện tại.
            Đến nay, sau hơn 20 năm chúng ta lại được chứng kiến dư luận xã hội rộ lên vì một đề xuất về cải cách chữ viết. Đề xuất lần này là của một nhà khoa học về ngôn ngữ hẳn hoi, nhưng xem ra cũng chẳng hợp lý - nếu không nói là hết sức vô lý và lợi bất cập hại. Bởi vậy việc đề xuất cải cách chữ viết lần này cũng vừa mới manh nha đã bị  dư luận "ném đá" không thương tiếc.

            Thiển nghĩ, chữ viết trước hết là một tài sản văn hóa phi vật thể của một quốc gia dân tộc. Chữ Quốc ngữ của ta đang dùng là loại chữ ký tự, để kí âm âm tiết của tiếng Việt. Bảng chữ cái La tinh từ khi được các giáo sĩ phương Tây sử dụng làm phương tiện phiên âm cho mục đích truyền giáo tại các nước châu Á. Nhưng chỉ có Việt Nam là được tiếp nhận, chuyển hóa thành Quốc ngữ. Người được nhắc đến nhiều nhất trong quá trình sử dụng chữ cái La tinh để phiên âm tiếng Việt là giáo sĩ Alexandre de Rhodes. Thực chất là ông đã dùng nó để truyền Đạo vào Việt Nam. Sau này với quá trình đóng góp điều chỉnh của công chúng, dần đã hình thành bảng chữ cái Quốc ngữ để thay thế cho chữ Nôm, chữ Hán vì nó thuận tiện cho phiên âm quốc tê. Từ khi chính thức vào nước ta, các chữ cái La tinh cũng đã trải qua hàng thế kỷ điều chỉnh mới trở thành bảng chữ cái Quốc ngữ Việt Nam để hoàn thiện cách ghép vần và nguyên tắc viết chính tả ổn định như ngày nay. Với bảng chữ cái hiện tại, chúng ta có thể tự hào là đã được xếp ngang hàng với chữ của các nước tiến bộ trên thế giới. Bản thân nó cũng đã làm tròn bổn phận ký âm cho toàn bộ âm tiết của tiếng Việt và thể hiện được đầy đủ các cung bậc tình cảm. Như vậy, liệu có cần thiết phải cải cách?.

            Đánh giá vai trò của chữ Quốc ngữ tại "Hội thảo khoa học: Chữ Quốc ngữ-sự hình thành, phát triển và những đóng góp vào văn hóa Việt Nam" tại Tuy Hòa, Phú Yên (tháng 10-2015) đã thống nhất nhận định "...sự phát triển của chữ quốc ngữ một phần là do nó phù hợp với lịch sử, nhưng phần khác lớn hơn là do tính ưu việt so với các hình thức chữ có trước đó tại Việt Nam. Nếu trước đó với loại chữ Hán, chữ Nôm - một loại chữ rất khó học - dân Việt Nam có đến 98% người mù chữ, thì nay với chữ quốc ngữ tình thế đã hoàn toàn đảo ngược lại, tức số người biết chữ là 98% và số người mù chữ chỉ bằng số người biết chữ thời bấy giờ".

            Những năm gân đây, không riêng chữ Quốc ngữ, chúng ta đã quá mệt mỏi về những đề xuất cải cách mà cuối cùng không những không đem lại hiệu quả tiến bộ, thậm chí còn để lại những hệ lụy tai hại. Ví dụ, vào đầu thập kỷ 80 của thế kỷ trước, người ta định thay đổi Quốc ca. Cuộc vận động sáng tác Quốc ca được phát động khá rầm rộ, Nhà nước thành lập cả một hội đồng xét chọn. Nhưng cuối cùng, rất may là nhân dân không chấp nhận. Tưởng điều ấy đã làm nên bài học, vậy mà vài năm sau người ta lại nghĩ ra cải tiến chữ viết, bắt tất cả học sinh lớp một viết một loại chữ "cắt móc" (tương tự như chữ in). Loại chữ này vừa vụn, vừa khó coi, khi viết còn liên tục phải nhấc bút làm cho tộc độ ghi chậm lại. Tiếp nữa là cho học sinh lớp một học chữ e trước tiên, thay vì chữ a trong bảng chữ cái như truyền thống. Các cuộc cải cách này cũng tự nhiên chết yểu mà không cần khai tử.

            Gần đây ngành giáo dục vẫn được xếp vào đội ngũ tiên phong của các cải tiến và cải cách, gây nên không biết bao nhiêu tranh luận, thậm chí có lúc đại biểu Quốc hội cũng phải than trước nghị trường rằng, "Xin các ngài đừng lấy con em chúng tôi ra làm chuột bạch nữa!". Vậy mà phong trào cải tiến, cải cách vẫn tiếp tục nở rộ như hoa cúc dại giữa mùa thu!.

         Vẫn biết đổi mới là nhu cầu không thể thiếu, nhằm đáp ứng cho sự phát triển của xã hội. Tuy nhiên, cải cách, cải tiến thì cái sau phải tiến bộ hơn cái trước; cái mới phải văn minh hơn cái cũ. Muốn vậy, sáng kiến cải tiến phải thực sự khoa học; phải được thận trọng thẩm định trước khi áp dụng vào thực tiễn đời sống. Tuyệt đối không thể cứ nghĩ ra cái mới, rồi chủ quan cho là hay, cưỡng ép thực hiện đại trà, hỏng thì lại sửa. Cung cách làm ăn như vậy chẳng những không làm cho xã hội phát triển mà ngược lại còn phá hoại cả tiến trình phát triển của xã hội.

            Hiện nay đất nước còn biết bao công việc phải làm để tránh mắc vào cái "bẫy thu nhập trung bình". Tổ quốc và nhân dân đang kỳ vọng vào các nhà khoa học, nhưng nhân dân cũng không thiếu minh mẫn để vội vã hùa theo ý kiến của một số người mượn danh khoa học, bày ra những phát kiến vô bổ, không giúp ích cho sự phát triển của đất nước mà còn báo hại cho quốc gia - dân tộc.

                                                                                          Mạnh Nguyên

25 tháng 11 2017

TIẾN SĨ ĐỘNG RỒ

PGS-TS Bùi Hiền
Người đang hô hào cải tiến chữ Quốc ngữ
Chữ nhiều nên lú rồi chăng
Làm cho thiên hạ ngỡ rằng ông điên
Hỡi ôi! tiến sĩ Bùi Hiền
Rỗi hơi nên mới tự nhiên động rồ
Nghĩ ra sáng kiến thật "phô":
Rằng là chữ cái bây giờ phải thay
"Văn minh" thừa dở thiếu hay
Tiến đâu chẳng thấy - lạy thày cải lui!  
                                  Cả Mõ






GS-TS ĐỀ NGHỊ THAY ĐỔI TOÀN BỘ BẢNG CHỮ CÁI TIẾNG VIỆT
            Chúng ta nghĩ sao nếu chữ ‘luật giáo dục’ phải viết là ‘luật záo zụk’, ‘nhà nước’ là ‘n’à nướk’… Nhưng đó là cách viết cải tiến mà PGS-TS Bùi Hiền đề xuất trong một cuốn sách mới xuất bản gần đây. Điều này gây ra nhiều tranh luận không chỉ trong giới chuyên môn mà cả những người đang sử dụng tiếng Việt.
           1. Ý kiến của TS Hiền:
* Chữ viết của tiếng Việt hiện tại chưa hợp lý?
            Đó là cuốn sách Ngôn ngữ ở Việt Nam – Hội nhập và phát triển (tập 1) dày 2.200 trang, do nhà xuất bản Dân trí phát hành, nhân Hội thảo ngữ học toàn quốc được tổ chức tại Trường ĐH Quy Nhơn hồi tháng 9. Trong rất nhiều bài viết của các nhà ngôn ngữ học, có bài “Chữ quốc ngữ và hội nhập quốc tế” của tác giả Bùi Hiền với đề xuất cải tiến chữ viết tiếng Việt gây nhiều tranh cãi.
            PGS-TS Bùi Hiền (Nguyên Hiệu phó trường ĐHSP Ngoại ngữ Hà Nội, nguyên phó Viện trưởng Viện Nội dung & Phương pháp dạy – học phổ thông) cho biết: “Từ năm 1924, khi toàn quyền Đông Dương ký nghị định cho phép dạy chữ quốc ngữ bắt buộc ở cấp tiểu học, trải qua gần một thế kỷ, đến nay chữ quốc ngữ đã bộc lộ nhiều bất hợp lý, nên cần phải cải tiến để giản tiện, dễ nhớ, dễ sử dụng, tiết kiệm thời gian, vật tư…”.
            Những bất hợp lý mà PGS Bùi Hiền đưa ra, đó là hiện tại, chúng ta sử dụng 2, 3 chữ cái để biểu đạt một âm vị phụ âm đứng đầu. Ví dụ C – Q – K (cuốc, quốc, ca, kali), Tr – Ch (tra, cha), S – X (sa, xa)… Bên cạnh đó, lại dùng 2 chữ cái ghép lại để biểu đạt âm vị một số phụ âm đứng cuối vần như Ch, Ng, Nh (mách, ông, tanh…). “Đó là những hiện tượng không thống nhất, không theo một nguyên tắc chung nào dẫn đến khó khăn cho người đọc, người viết, thậm chí gây hiểu nhầm hoặc không hiểu được chính xác nội dung thông tin. Người học như trẻ em hay người nước ngoài, cũng rất hay mắc lỗi do sự phức tạp này mang lại”, tác giả Bùi Hiền chia sẻ.
            Từ đó, PGS Hiền kiến nghị một phương án làm cơ sở để tiến tới một phương án tối ưu trình nhà nước. Chữ quốc ngữ cải tiến của tác giả Bùi Hiền dựa trên tiếng nói văn hóa của thủ đô Hà Nội cả về âm vị cơ bản lẫn 6 thanh điệu chuẩn, nguyên tắc mỗi chữ chỉ biểu đạt một âm vị, và mỗi âm vị chỉ có một chữ cái tương ứng biểu đạt. Sẽ bỏ chữ Đ ra khỏi bảng chữ cái tiếng Việt hiện hành và bổ sung thêm một số chữ cái tiếng Latin như F, J, W, Z. Bên cạnh đó, thay đổi giá trị âm vị của 11 chữ cái hiện có trong bảng trên, cụ thể: C = Ch, Tr; D = Đ; G = G, Gh; F = Ph; K = C, Q, K; Q = Ng, Ngh; R = R; S = S; X = Kh; W =Th; Z = d, gi, r. Vì âm “nhờ” (nh) chưa có kí tự mới thay thế, nên trong văn bản trên tạm thời dùng kí tự ghép n’ để biểu đạt.
            PGS-TS Bùi Hiền cho biết: “Đề xuất của tôi có nhiều nhà ngôn ngữ họ thấy hợp lý vì chữ viết mới có một nguyên tắc thống nhất. Nhưng cũng có nhiều ý kiến phản bác vì cho rằng nếu cải tiến vậy sẽ phức tạp, có nhiều hệ lụy. Ví dụ kho tư liệu đồ sộ cũ chuyển sang chữ viết mới thì sẽ xử lý như thế nào. Và để thay đổi sẽ phải mất rất nhiều thời gian: thay đổi nhận thức, thay đổi cách học, cách dạy, sách giáo khoa cũng phải thay đổi, các văn bản, sách, báo, rồi lập trình chữ viết trên máy tính… Phải thay đổi từng bước một. Nhưng chỉ cần mất 1-2 năm là quen dần”.
            Bù lại, theo PGS Hiền, cải tiến theo cách này sẽ thống nhất được chữ viết cho cả nước, loại bỏ được hầu hết các thiếu sót, bất cập không nhất quán trước đây gây khó khăn cho người dùng (dẫn mắc lỗi chính tả), giản tiện được bộ chữ cái khi từ 38 chữ cái chỉ còn 31, dễ nắm được quy tắc, dễ nhớ. Ngoài ra, còn tiết kiệm được thời gian, công sức, vật tư trong quá trình tạo lập các văn bản trên giấy, trên máy tính.
                2. Ý kiến của các chuyên gia và nhà chuyên môn:
* Sẽ mất đi sự tinh tế trong cách viết, đọc và phát âm của tiếng Việt
            Chia sẻ về vấn đề cải tiến chữ quốc ngữ, PGS-TS Nguyễn Hữu Hoành, Phó Viện trưởng Viện Ngôn ngữ học Việt Nam cho biết, vấn đề này đã được các nhà ngôn ngữ học trao đổi, đề cập rất nhiều trong những năm qua chứ không riêng gì đề xuất của PGS-TS Bùi Hiền.
            “Tuy nhiên, không thể thay đổi được và cũng không nên thay đổi, vì chữ viết liên quan đến văn hóa, lịch sử và rất nhiều vấn đề khác. Ngay cả tiếng Anh, một ngôn ngữ phổ biến có nhiều chữ đọc và viết bất hợp lý mà cũng không ai nghĩ đến việc cải tiến. Đến nay, trải qua nhiều thế kỷ, tiếng Việt đã định hình và chữ quốc ngữ đã tồn tại cả thế kỷ với kho tư liệu đồ sộ từ lúc hình thành đến bây giờ”, PGS-TS Nguyễn Hữu Hoành nhìn nhận.
            GS-TS Bùi Khánh Thế (chuyên ngành ngôn ngữ học, Phó Chủ tịch Hội đồng khoa học và đào tạo Trường ĐH Ngoại ngữ-Tin học TP.HCM ), cũng cho rằng, từ năm 1997, Trường ĐH Khoa học xã hội và nhân văn TP.HCM đã tổ chức hội thảo Chữ quốc ngữ và sự phát triển chức năng xã hội của tiếng Việt, với 32 bài viết từ các chuyên gia ngôn ngữ. Từ đó đến nay cũng có rất nhiều hội thảo, chuyên đề đề cập tới việc nên giữ hay cải tiến.
            Nói về đề xuất của PGS-TS Bùi Hiền, giáo sư Bùi Khánh Thế cho biết: “Có một số bất hợp lý, chẳng hạn ký tự q lại thay thế cho chữ ng, z thay gi, c thay tr, ch… Chưa kể làm vậy sẽ mất đi sự tinh tế trong cách viết, đọc và phát âm của tiếng Việt. Từ lúc hình thành cho đến nay, tiếng Việt có nhiều âm thay đổi nhưng chữ viết vẫn giữ nguyên. Đó chính là sự bền vững cần có, chỉ những gì bất hợp lý mới mất đi”.
            Theo GS-TS Bùi Khánh Thế, càng đổi mới thì càng bị rối. Đó là chưa kể, sẽ phải tốn rất nhiều thời gian, công sức và kinh phí để thay đổi. Vì thế, đối với chữ quốc ngữ, nên tìm cách chú ý khắc phục những cái khó, hơn là cải tiến.
Dưới đây là một ví dụ về cách viết cải tiến theo đề xuất của ông Bùi Hiền. 
LUẬT ZÁO ZỤK
Diều 7. Qôn qữ zùq coq n’à cườq và kơ sở záo zụk xák; zạy và họk tiếq nói, cữ viết kủa zân tộk wiểu số; zạy qoại qữ.
1. Tiếq Việt là qôn qữ cín’ wứk zùq coq n’à cườq và kơ sở záo zụk xák. Kăn kứ vào mụk tiêu záo zụk và yêu kầu kụ wể về nội zuq záo zụk, Wủ tướq cín’ fủ kuy dịn’ việk zạy và họk bằq tiếq nướk qoài coq n’à cườq và kơ sở záo zụk xák.
2. N’à nướk tạo diều kiện dể qười zân tộk wiểu số dượk họk tiếq nói, cữ viết kủa zân tộk mìn’ n’ằm zữ zìn và fát huy bản sắk văn hoá zân tộk, zúp co họk sin’ qười zân tộk wiểu số zễ zàq tiếp wu kiến wứk xi họk tập coq n’à cườq và kơ sở záo zụk xák. Việk zạy và họk tiếq nói, cữ viết kủa zân tộk wiểu số dượk wựk hiện weo kuy dịn’ kủa Cín’ fủ.
3. Qoại qữ kuy dịn’ coq cươq cìn’ záo zụk là qôn qữ dượk sử zụq fổ biến coq zao zịk kuốk tế . Việk tổ cứk zạy qoại qữ coq n’à cườq và kơ sở záo zụk xák kần dảm bảo dể qười họk liên tụk và kó hiệu kuả.
            Dịch ra chữ hiện tại:
            LUẬT GIÁO DỤC
            Điều 7. Ngôn ngữ dùng trong nhà trường và cơ sở giáo dục khác; dạy và học tiếng nói, chữ viết của dân tộc thiểu số; dạy ngoại ngữ.
            1. Tiếng Việt là ngôn ngữ chính thức dùng trong nhà trường và cơ sở giáo dục khác. Căn cứ vào mục tiêu giáo dục và yêu cầu cụ thể về nội dung giáo dục, Thủ tướg chíh phủ quy định việc dạy và học bằng tiếng nước ngoài trong nhà trường và cơ sở giáo dục khác.
            2. Nhà nước tạo điều kiện để người dân tộc thiểu số được học tiếng nói, chữ viết của dân tộc mình nhằm giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc, giúp cho học sinh người dân tộc thiểu số dễ dàng tiếp thu kiến thức khi học tập trong nhà trường và cơ sở giáo dục khác. Việc dạy và học tiếng nói, chữ viết của dân tộc thiểu số được thực hiện theo quy định của Chíh phủ.
            3. Ngoại ngữ quy định trong chương trình giáo dục là ngôn ngữ được sử dụng phổ biến trong giao dịch quốc tế. Việc tổ chức dạy ngoại ngữ trong nhà trường và cơ sở giáo dục khác cần đảm bảo để người học được học liên tục và có hiệu quả.
* Chữ viết hiện tại phong phú và không cần thiết thay đổi
            Ông Trương Minh Đức, giáo viên ngữ văn Trường THPT Lê Quý Đôn, TP.HCM cho rằng, tiếng Việt được hình thành từ lâu, đó là cả một quá trình tất nhiên bản thân nó cũng đã có những quy tắc. Dùng đúng hay chưa phù hợp thì bản thân nó cũng đã mang tính quy ước và có tính ổn định, thống nhất. Việc Chữ quốc ngữ cải tiến dựa trên tiếng nói văn hóa của thủ đô Hà Nội liệu có đảm bảo độ chính xác cao khi bản thân phương ngữ và cả ngữ âm Hà Nội không ai dám chắc là chính xác. Vả lại sự phát triển ngôn ngữ trong tiếng Việt nó còn do yếu tố từ yêu cầu của ngôn ngữ địa phương, vùng miền. Mặc dù điều này khó mang đến sự thống nhất nhưng nó lại làm phong phú vốn từ và thể hiện được bản sắc riêng từng địa phương.
            Về phương án thay đổi âm vị của 11 chữ cái như PGS-TS Bùi Hiền đưa ra, theo thầy Đức là không cần thiết và không hợp lý, chỉ gây nên sự xáo trộn không cần thiết, làm ảnh hưởng đến nhiều hệ thống bảng biểu, luật định, văn bản… Và ngay cả tên gọi cá nhân trong các hồ sơ pháp lý.
            “Việc dạy và học văn sẽ gặp rất nhiều sự trở ngại. Đó là phải đào tạo lại giáo viên (không kể giáo viên dạy các môn khác môn ngữ văn), điều chỉnh lại tất cả các văn bản văn học, kể cả văn bản văn học chữ quốc ngữ (phải xin phép cả những tác giả đã khuất) hoặc nếu không phải có hàng loạt các chú thích cuối trang để những học sinh đối chiếu với văn bản gốc. Cần nhiều thời gian để giáo viên và cả xã hội làm quen những điều vốn dĩ không cần thiết song hành với bao phức tạp của xã hội”, ông Đức nhìn nhận.

                                                                                             Theo: Việtkhámphá