Cả Mõ

camoz77.blogspot.com/

16 tháng 4 2019

ĐỘC QUYỀN THẦY LANG XÃ

          Là hậu duệ đời thứ tám làm nghề thầy thuốc ở làng, vì thế mà Lão luôn tự hào khoe là chữa được nhiều loại bệnh nan y – nhất là ở cái làng Võ Trung này lại thuộc “vùng sâu”, nên người dân đến với Lão để đỡ phải đi xa chữa bệnh.
Ảnh (Internet) minh họa 
          Thế rồi lão nghĩ ra cách để độc quyền chữa bệnh ở cái làng heo hút này, Lão đề xuất với Lý Tam (trưởng làng) rằng, để Lão thu tiền khám bệnh cho dân cả làng, mỗi hộ nộp một khoản hằng năm, gọi là kinh phí chăm lo sức khỏe. Ai có bệnh cứ đến là lão khám miễn phí, trừ trường hợp phải nằm điều trị nội trú hoặc mua thuốc về ngoại trú mới phải trả thêm tiền thuốc, tiền giường. Nghe ra cũng phải nhẽ nên Lý Tam bằng lòng ngay. Vậy là từ đó Lão danh chính ngôn thuận độc quyền chăm sóc sức khỏe cho cả làng. Được độc quyền rồi, Lão ra thỏa thuận với lang Cả ở trên huyện, chỉ khi nào Lão không chữa được, có giấy giới thiệu lên thì lang Cả mới được nhận bệnh nhân.
          Thỏa thuận phân tuyến như thế nghe ra cũng ổn.
          Nhưng câu chuyện không dừng lại ở đó, từ ngày được giao trách nhiệm chữa bệnh cho dân trong làng, lão bắt đầu nghĩ ra cách để tăng thu nhập. Lão quên luôn lời dặn dò của tổ phụ nhà Lão là: “Lương y phải như từ mẫu”. Rồi cũng nhờ sự độc quyền nên người bệnh ngày một đông, thu nhập cũng vì thế tăng lên vùn vụt. Lão thuê thêm mấy thằng tiểu đồng, vừa dạy chúng học nghề, vừa để chúng giúp Lão làm những việc công sai, cần vụ - hay nói cách khác là chăm sóc bệnh nhân. Dụng cụ khám bệnh cũng được Lão hiện đại hóa, mua thêm các phương tiện chẩn đoán “phi lâm sàng” như máy siêu âm nhiều chiều, điện tim, máy chụp chiếu điện quang, máy xét nghiệm, nội soi…Và, đương nhiên là Lão tuyển thêm các nhân viên chuyên môn để phụ trách các thiết bị hiện đại ấy.
          Phương tiện hiện đại tất cần người sử dụng cũng hiện đại. Điều này thì không dễ, vì lấy đâu ra nhiều nhân viên có kinh nghiệm. Bởi thế mà từ ngày có các phương tiện này, không ít người chỉ đến khám kiểm tra nhưng cũng được phát hiện ra bệnh, phải lập tức vào nhập viện!.
          Lão khoe, đây là các trang thiết bị hiện đại, có khả năng phát hiện sớm cả một số bệnh nan y. Từ ngày có máy móc hiện đại, Lão dần xa lánh việc trực tiếp xem mạch cho người bệnh, thỉnh thoảng có gặp phải người bệnh quen thân, buộc phải thể hiện sự nhiệt tình thăm khám thì Lão mới sờ qua cái mạch. Nhưng lạ là Lão bắt mạch cả bên ngoài tay áo. Có người bảo, Lão làm thế cho gọi là có sự nhiệt tình thăm khám, nhưng cũng có người lại bảo, chắc là trình độ của Lão đã đến mức siêu phàm nên chỉ cần sờ ngoài áo cũng chẩn được bệnh. Lý thuyết về khám bệnh mà ngày trước Lão vẫn hay nhắc với học trò: “Vọng, văn, vấn, thiết” thì bây giờ không thấy Lão nhắc nữa.
          Đúng là “Mèo già thì hóa cáo”, từ ngày có cái “vé” độc quyền, lão biến căn nhà lụp xụp của gia đình thành cả một bệnh xá. Cũng vì được độc quyền nên có người đến khám, một là Lão cho thu dung vào nội trú, hai là không cho chuyển lên tuyến trên. Bởi vậy ngày nào bệnh xá của Lão cũng đông như kiến cỏ, thường xuyên là hai đến ba người bệnh phải nằm chung một giường. Hôm họp hội đồng xã, Lão trịnh trọng báo cáo thành tích chăm sóc sức khỏe, với công suất sử dụng giường bệnh luôn đạt tới hai trăm đến ba trăm phần trăm. Hội đồng Hương lý phấn khởi vỗ tay bôm bốp, vì cho rằng như thế là Lão rất tích cực chữa bệnh cho nhân dân.
          Để biết ơn hội đồng Hương lý đã ủng hộ, Lão dành riêng cho các chức sắc của làng một số phòng VIP để các ngài có vào viện cũng không thấy được nỗi khổ nằm ghép của dân đen. Ngoài ra, Lão cũng nhanh nhạy chỉ đạo làm thêm ra một số phòng VIP nữa, phục vụ cho các phú nông, địa chủ khi phải đến điều trị thì cứ việc bỏ thêm tiền thuê mà nằm cho thoải mái.
Lão chỉ đạo bọn đàn em, cấm đứa nào được tùy tiện giới thiệu bệnh nhân lên tuyến trên, như thế là làm giảm nguồn thu nhập. Mới rồi, vì có nhiều người bệnh phàn nàn là phải nằm điều trị quá lâu, bệnh tình không đỡ mà không được chuyển viện. Thằng nhỏ học việc mới phản ảnh lên Lão, Lão trừng mắt:
- Mày ngu nó vừa thôi, cho chuyển hết cả bệnh nhân đi thì chúng mày lấy máu khỉ mà hốc à!?
Thằng nhỏ gãi tai phân trần:
- Thưa, dưng mà bệnh xá mình đông quá, lại có những bệnh nhân đã điều trị đến mấy chục ngày rồi mà bệnh không đỡ…
- Đồ ngu!- Lão cắt lời làm mặt nó xanh lè – Mày có biết các cụ xưa đã dạy không: “thuốc là phải ba thang”, chứ mới nằm viện mấy hôm đã đòi khỏi thì khỏi làm sao?.
Đến đây thì thằng nhỏ cũng cự lại:
- Biết vậy, nhưng có người đã dùng đến 4, 5 thang rồi mà có khỏi đâu!. Với lại họ kêu, nằm chen chúc đến mấy người một giường thì có khỏe rồi cũng thành  ốm. Vậy mà tiền giường thì vẫn thu chẳng thiếu một xu.
Lão dịu giọng một chút, nhưng vẫn chém tay giải thích:
- Mày ngu lắm con ạ, người ta bảo “thuốc ba thang” là cho một liệu trình chẩn đoán. Hết ba thang rồi mà không đúng bệnh thì chưa khỏi, mà chưa khỏi thì chẩn lại, chuyển hướng điều trị sang phác đồ khác nghe chửa!. Mày chỉ toàn lo bò trắng răng thôi. Còn giường hử, không nằm được thì ngồi chứ có đứa nào phải đứng đâu mà kêu. Ốm thì phải vào viện, mà ở viện thì sướng làm sao được, muốn sướng thì đi thuê khách sạn mà nằm!.
Thằng nhỏ lại đành gãi tai, nó lúng búng “Dạ, vâng ạ!” rồi khúm núm đi lũi ra khỏi cửa phòng. 

                                                                              Phiếm luận của CM  

16 tháng 2 2019

ĐỒNG ĐỘI TÔI ĐÃ HY SINH NHƯ THẾ

(Khoảnh khắc đáng nhớ của 40 năm về trước)

            Chiều cuối tháng 2, tuy trời quang mây nhưng mới hơn 6 giờ  mà đã nhọ mặt người, nơi đặt hậu cứ tiền phương của tiểu Tiểu đoàn tại Làng Chung (Bản Phiệt) vẫn còn vương mùi khét và bừa bộn bởi một trận mưa đạn pháo của đối phương. Đội nữ vận tải Trung đoàn 254 lên tiếp tế cho đơn vị cũng vừa chuyển nốt người thương binh cuối cùng ra khỏi trạm cấp cứu dã chiến. Tiểu đoàn trưởng lệnh cho đơn vị di chuyển sang địa điểm mới để củng cố trận địa.
            Vì phải dọn dẹp bông băng, y cụ nên tôi là người ra sau cùng. Lúng túng giữa lõng đường mòn của cánh rừng tái sinh, tôi không còn nhận được hướng hành quân của đơn vị. Thế là lạc!
            Nghĩ vậy, nhưng tôi vẫn cố rảo bước, cứ nhắm thẳng phía trước để đuổi theo hướng di chuyển của đơn vị. Đến khúc ngoặt thì gặp một người đi ngược chiều, người ấy hỏi:  
- Đi đâu thế ông bạn?
- Tìm đơn vị! - tôi trả lời - nhưng nhận ra đúng giọng của anh Chương, tôi hỏi:
- Anh Chương phải không?
Anh vồ lấy vai tôi, nói như lạc giọng:
- Ôi, thằng em... anh cũng đang tìm đơn vị đây, Cường nó hy sinh rồi em ạ!
            Như không tin vào tai mình, tôi hỏi lại:
            - Anh nói sao, sao… Cường lại hy sinh?
            Trong bóng đêm, không thấy rõ mặt, nhưng tôi cũng cảm nhận được Anh đang cố nén xúc động để nhắc lại:
            - Cường hy sinh rồi, Tuấn Anh cũng bị thương vào chân sáng hôm qua, khi bọn anh đụng độ với quân “Sơn Cước” tại khu B của Trại Hai.
            Trong bộ phận hậu cần Tiểu đoàn, chúng tôi tuy không cùng nhập ngũ, nhưng ngay từ đầu đã thân thiết tựa anh em ruột thịt. Anh Nguyễn Văn Chương (phụ trách Quân nhu) được coi là anh cả, vì anh lớn tuổi nhất; Ngô Mạnh Cường cùng tuổi vứi tôi, là trưởng bộ phận Quân khí - hai người đều là  bộ đội từ thời chống Mỹ. Sau 1975 họ giải ngũ về địa phương, đến khi thành lập tiểu Đoàn 4 thì lại được gọi ra tái ngũ. Cao Tuấn Anh trước đó là tài vụ của cơ quan Huyện Đội, khi thành lập Tiểu đoàn Tuấn Anh cũng được điều ra phụ trách tài vụ của đơn vị. Còn tôi, tuy là lính tò te, nhưng có vinh dự  là vào cùng với đội ngũ “cán bộ khung”, vì có chuyên môn ngành y và được giao nhiệm vụ phụ trách Quân y của Tiểu đoàn.
            Cùng anh Chương quay lại, chúng tôi đi thêm được khoảng hơn cây số nữa thì gặp đơn vị. Đêm ấy - sau khi hoàn tất công sự, dù rất mệt nhưng tôi cứ trằn trọc, vừa chợp mắt là lại thấy Cường hiện về, với nước da ngăm đen, cái cười hồn nhiên lạc quan. Có lần Cường kể, ngày còn ở Hoàng Liên Sơn 2 ([1]), trên đường hành quân đi Nam, bị máy bay Mỹ rải thảm ở Trường Sơn, rồi thằng OV10 đuổi bắn, chạy vòng quanh gốc cây tránh đạn mà chẳng hề sây sát.
            Vậy mà lần này…Thật khó có thể tin rằng Cường đã hy sinh!
            Cho đến hết chiến dịch anh Chương mới có dịp kể lại đầu đuôi câu chuyện về sự hy sinh của Ngô Mạnh Cường. Đó là chiều ngày 22/2/ 1979 - khi được tin địch tấn công ồ ạt vào hướng của Tiểu đoàn. Anh Chương cùng với Cường và một số chiến sĩ thông tin, vận tải ở hậu cứ Km 21 (Phong Hải) sắp xếp lại hàng trong kho, chia nhau vận chuyển những thứ cần thiết lên để tiếp tế cho đơn vị. Xẩm tối cả đoàn mới đến được khu B của trại Cải tạo Số 2, anh em quyết định tạm nghỉ lại qua đêm tại đó.
            Hôm sau vừa ăn sáng xong, chuẩn bị lên đường thì nghe thấy hàng loạt AK nổ ở phía trước, có 2 chiến sĩ trinh sát thuộc sư 356 chạy ngược trở lại thông báo, phía trước có địch. Anh em hội ý chớp nhoáng và quyết định bố trí chốt lại đó để chặn địch. Là người mang quân hàm thượng sĩ – cấp hàm cao nhất trong toán nên Ngô Mạnh Cường nhận nhiệm vụ chỉ huy chung.
Ít phút sau pháo của địch bắt đầu dập như mưa, anh em phải tạm thời lui xuống giao thông hào để cố thủ. Sau mấy loạt pháo, bộ binh địch bắt đầu ồ ạt tấn công theo chiến thuật “biển người”. Từ các vạt đồi phía trước, chúng hò nhau xông lên như đàn kiến, vừa bắn xối xả vừa đánh trống, thổi kèn. Bộ đội ta tuy quân số ít, nhưng nhờ có hệ thống giao thông hào làm điểm tựa, lại có thêm bộ phận của tiểu đoàn Một đến phối hợp và một khẩu đội hỏa lực RPD thuộc E124 yểm trợ nên đã cố thủ, chặn bước tiến của địch. Cuộc chiến diễn ra mỗi lúc một ác liệt vì quân địch quá đông, lại có hỏa lực mạnh yểm trợ. Cường nói với anh Chương:
- Anh ở đây cùng anh em chống địch tấn công từ phía trực diện, em vòng sang bên, vận động để cản địch thọc sườn!.
Nói rồi, không kịp để anh Chương phản ứng, Cường đã nhanh như con sóc nhảy vọt khỏi công sự, lao về phía sườn trái, đánh thẳng vào mũi vu hồi của địch. Cùng lúc, Cao Tuấn Anh bị thương vào chân, anh Chương ra lệnh cho Tuấn Anh lùi về sau để rút ra khu vực an toàn.
Chiến đấu trên điểm tựa (Ảnh minh họa)
Ít phút sau không còn nghe được tiếng điểm xạ chắc và đanh gọn từ phía Cường nữa, trên điểm cao, bộ phận hỏa lực RPD phát hiện địch bố trí lực lượng lớn, tạo mũi vu hồi vòng ra sau nhằm diệt gọn quân ta nên đã hô lớn:
- Địch đang đánh tập hậu với lực lượng rất đông, chúng tôi bắn yểm trợ, các đồng chí bộ binh phải khẩn trương rút ngay khỏi vòng vây!.
Thấy tình thế quá chênh lệch và bất lợi, anh Chương đành tổ chức cho anh em lựa theo khe suối, vòng về sau thung lũng để bảo toàn lực lượng. Đến điểm tập kết, kiểm vội lại quân số thì thấy thiếu một người, còn chưa xác định được là ai thì các chiến sĩ D1 đưa lại cho anh Chương một khẩu AK và nói:
- Bên các anh hy sinh một, bên chúng em cũng hy sinh một. Hiện đã được tạm thời chôn  cất tại chỗ, đây là khẩu súng của đồng chí hy sinh bên đơn vị các anh.
Cầm khẩu AK còn khét mùi thuốc đạn, anh Chương nhận ra ngay là khẩu súng của Ngô Mạnh Cường. Theo mô tả của các chiến sĩ D1 thì Cường đã lao lên khỏi giao thông hào, vận động về phía mũi vu hồi để chặn địch. Với từng loạt điểm xạ chính xác, Cường và Đại (chiến sĩ tiểu đoàn 1) đã làm cho toán quân vu hồi của địch phải khựng lại trước khoảng trống ở bìa rừng. Nhưng vì trên địa hình trống trải, Cường và Đại đều bị hy sinh vì các tay súng bắn tỉa, có kính ngắm từ xa của đội quân Sơn Cước.
Đó là những gì chúng tôi biết được về Ngô Mạnh Cường, người đồng đội ở bộ phận hậu cần, Tiểu đoàn 4 Bảo Thắng trong những ngày chiến đấu bảo vệ mảnh đất biên cương thiêng liêng của Tổ Quốc cách nay đã tròn 40 năm!
                                                                    C.M    
                                                         Tháng 2/ 2019  




[1] Tiểu đoàn Hoàng Liên Sơn 2 (Lào Cai) trong những năm chống Mỹ.

TỘ CON GIỜI


Trích từ truyện ngắn “Anh Cu Tộ”
(Trong loạt bài kỷ niệm 40 chiến tranh biên giới phía Bắc 
17/2/1979 – 17/2/2019)

                                       Mạnh Nguyên
Không ngờ là ở chiến dịch bảo vệ biên giới phía Bắc, tôi lại gặp được anh Tộ trong một trường hợp khá kỳ ngộ. Đó là một đêm cuối tháng không có trăng sao, nhìn lên phía Bắc, cả một vùng trời vẫn đỏ rực màu khói lửa và vọng lại tiếng súng nổ ầm ì như tiếng sấm. Đơn vị được lệnh hành quân đến chân điểm cao 411, đang hí hoáy sửa lại cái ngách hầm thì tôi nghe có tiếng người nói ở trên:
- Tay nào có điếu cho tớ mượn làm một hơi.
Vội ngẩng lên, nhưng trời tối nên tôi không nhìn rõ là ai:
- Bọn này không hút thuốc lào, ông có dùng thuốc lá thì có đây - tôi trả lời.
- Ừ, lá cũng được, thèm quá!.
Nói rồi người ấy nhận điếu thuốc tôi đưa, cúi xuống một góc hầm chụm tay che ánh sáng để bật lửa. Qua đốm sáng từ đầu điếu thuốc, tôi nhìn thấy khuôn mặt người này có gì đó quen quen, cộng với giọng nói đặc miền quê đồng bằng Bắc Bộ. Tôi hỏi:
- Anh ở đơn vị nào?
- Mình mới được bổ sung về làm B trưởng ở C3 - người ấy trả lời.
- Thế à, nhưng từ đơn vị nào bổ sung về đây thế?
- Lính tái ngũ, Quân khu III.
Nghe nói Quân khu III, tôi nghĩ ngay có thể là đồng hương, nên mới hỏi tiếp:
- Anh tên gì, quê ở đâu?
- Tên Tộ, quê Hải Phòng! Hỏi gì mà như thẩm vấn thế?.
Tôi quên cả câu trả lời có vẻ dấm dẳng của anh, lại hỏi:
- Có phải “Tộ con giời” không?
Người ấy vồ lấy hai vai tôi, ghé sát mặt hỏi lại:
- Mày là đứa nào mà biết cả tên cúng cơm của tao thế hả?
Vừa lúc ấy có tiếng rít và tiếng xoành xoạch của một quả đạn pháo, anh vội kéo tôi ngồi thụp xuống ngách hầm. Sau tiếng nổ đinh tai, đất đá rơi rào rào quanh mình, Tộ nhổm lên càu nhàu:
- Mẹ cha nó, tưởng không oánh đêm, thế mà thỉnh thoảng lại choảng một quả vu vơ!.
Quay lại phía tôi, Tộ hỏi:
- Đằng ấy quê đâu mà biết tớ?
Đoán chắc là anh “Tộ con giời” rồi, tôi mừng quá nắm lấy tay anh, xưng cả tên lẫn họ, rồi xưng luôn cả quê gốc ra nữa. Vậy là chúng tôi nhận nhau khá chóng vánh.
Tộ tóm tắt kể tôi nghe, sau giải phóng miền Nam anh bị thương, vào trại an dưỡng mãi cho đến cuối 76 mới về quê. Đang định cuối năm cưới vợ thì tình hình biên giới phức tạp, thế là được gọi tái ngũ và điều thẳng lên đây. Tôi lại hỏi:
- Ngày ấy em nghe đồn là anh hy sinh rồi cơ mà?
Vẫn cái cười khùng khục và giọng nói tưng tửng như gần hai mươi năm về trước, Tộ bảo:
- Chết thế qué nào được, tớ cao số lắm. Nếu không đã tỏi từ trận Mĩ nó rải thảm B52 ở trường Sơn năm 68 rồi. Ừ mà chết cũng hay, người ta nói, đời người có hai lần sướng nhất mà đếch biết. Ấy là lần mới đẻ, cả làng đến chúc tụng, tranh nhau bế ẵm mà lúc ấy đã biết gì đâu. Rồi đến lúc chết, người ta lại bu vào, kèn trống, kể lể thành tích, khóc than om sòm, khiêng cáng trọng vọng, khi ấy cũng đếch biết gì cả, phí!.
Tôi chen vào:
- Nhưng mà chết ở chiến trường thì lấy đâu ra mà kèn với trống?
Tộ lại cười:
- Là nói vậy, chứ thằng đếch nào muốn chết!
Gặp mặt hội đồng ngũ  D4 tại Lùng Phình Bắc Hà
(Một địa danh nơi đơn vị đóng quân sau chiến dịch 79)
Hàn huyên một hồi rồi Anh nắm  lấy tay tôi giật thêm mấy cái, bảo:
- Tớ ở B2 của C3, đóng ngay phía trước kia kìa. Bây giờ phải về đôn đốc anh em khẩn trương chuẩn bị trận địa để sáng mai còn có công sự mà sẵn sàng đón mấy anh “Bành trướng”. Chúng tôi chia tay nhau, hẹn có dịp sẽ gặp lại.
Hôm sau địch pháo kích liên tục nên chúng tôi không gặp được nhau. Rồi một tuần nữa qua đi… Một hôm tiểu đoàn phó từ chốt hỏa lực về cho biết, đơn vị anh Tộ đã nhận lệnh tăng cường lên bảo vệ Trung đoàn bộ.
Cuộc chiến bảo vệ biên giới năm ấy xảy ra không dài, nhưng ác liệt. Sau chiến dịch, chúng tôi hành quân về địa điểm tập kết. Khi ấy mới hay tin, đơn vị anh Tộ bị lọt vào vòng vây của đối phương. Tộ trực tiếp chỉ huy ở mũi chính của chốt bảo vệ Trung đoàn. Bộ binh của địch tấn công liên tục trong ba ngày liền, các chiến sĩ của ta chống trả rất quyết liệt. Nhưng do lực lượng quá chênh lệch nên đến ngày thứ hai thì cả chốt chỉ còn lại ba người, trong đó một đồng chí đã bị thương nặng, không còn khả năng chiến đấu.
Để cản địch tràn lên chiếm chốt, anh Tộ nghĩ ra cách đánh lừa địch là lực lượng của ta vẫn còn đông. Tộ bảo cậu chiến sĩ còn lành lặn cùng với mình lấy các cành cây làm cọc, cắm dọc theo bờ giao thông hào. Mỗi cái cọc cho đội một mũ và đặt bên cạnh một loại vũ khí khác nhau. Những lúc địch tạm thời không tấn công thì Tộ tranh thủ chặt các ống nứa, mỗi ống dài hơn một mét, rút sẵn chốt lựu đạn, buộc dây nụ xòe vào nhau rồi tống đầy ống. Khi vào trận, mỗi lần địch ồ ạt xông lên đến cự li gần, Anh dùng cả hai tay vung mạnh ống nứa, lựu đạn trong ống kéo nhau sổ tung ra, nổ dàn hàng ngang, hất lùi bọn địch xuống chân chốt. Khi địch lùi xa vài chục mét thì Tộ di chuyển về vị trí thuận lợi, dùng AK vừa quét, vừa tỉa; xa hơn nữa thì dùng trung liên và súng cối. Cứ như vậy anh cùng chiến sĩ còn lại cầm cự không để địch lên chiếm được mục tiêu.
Ngày thứ ba, sức khỏe của chiến sĩ bị thương chuyển biến xấu, vết thương sưng tấy và sốt cao. Tộ quyết định, lệnh cho đồng chí chiến sĩ còn lại bằng mọi cách phải chuyển được thương binh về tuyến sau, còn mình thì tiếp tục ở lại để yểm hộ và cản địch.
Được biết, anh Tộ đã chiến đấu đến viên đạn cuối cùng, rồi dùng quả lựu đạn “chia đôi”, anh dũng hy sinh chứ kiên quyết không để rơi vào tay quân địch.
                                                                                              M.N
                                                                          Tháng 7/2015 - 02/2019


10 tháng 1 2019

LUẬN VỀ CHỮ HIẾU THEO QUAN NIỆM CỦA ĐẠO KHỔNG

Khổng Tử với học trò
            Xưa nay chữ hiếu (孝) vốn được hiểu khá  giản đơn, là sự trả nghĩa của con cháu với cha mẹ, ông bà - theo triết lý "Trẻ cậy cha, già cậy con". Khi con còn nhỏ thì cha mẹ chăm chút nuôi dưỡng, ngược lại khi cha mẹ về già thì con cháu lại có trách nhiệm chăm sóc trở lại. Điều đó không sai, nhưng theo Khổng Tử (Người được suy tôn như một trong những nhà khai sáng Nho giáo, đồng thời là giảng sư  triết gia lỗi lạc bậc nhất cõi Á Đông) thì đó là chưa đủ.
Bởi ý nghĩa sâu xa về Nho giáo của chữ hiếu (孝) - theo chiết tự hình thái cấu trúc thì nó được biến thể từ chữ lão (老). Chữ lão (老) bao gồm chữ thổ () mà chữ thổ lại được cấu tạo bởi chữ thập (十) - biểu tượng cho dương thế, đặt trên chữ nhất () là ranh giới dương thế với âm phủ. Xuyên qua nó là bộ phết (phiệt; 丿) - là nét sổ qua trái, tựa như nhát mai đào đất. Cuối cùng là bộ chủy () - tựa như cái quan tài nằm ở dưới, ý nhắc nhở cho những ai đã lên lão thì quỹ thời gian không còn đáng là bao, họ nên tranh thủ làm nốt những điều cần để lại cho đời.
Từ chữ lão (老) biến thể ra chữ hiếu (孝), xét về cấu trúc chỉ khác ở chỗ, chữ tử ( - con)  được thế vào vị trí của bộ chủy ( - cái quan tài). Có ý là, khi người con đã sẵn sàng làm bất cứ việc gì cho cha mẹ đẹp lòng thì dù phải chết thay cha mẹ họ cũng làm, đó là chữ hiếu!.
            Theo sách xưa thuật lại cuộc trò chuyện giữa Khổng Tử và học trò của ông là Tăng Tử, khi
Tượng Khổng Tử tại Bắc Kinh-Trung Quốc
nói về "
Lòng hiếu thảo - được coi như trung tâm vai trò đạo đức của Nho giáo", Khổng tử cho rằng, chữ hiếu cần được chia làm 3 cấp độ:
Đại hiếu – Tôn thân, có nghĩa là hiếu thảo lớn nhất của người con là sự phấn đấu tự tôn cho chính bản thân mình; phải biết chăm chỉ học tập, rèn dũa để trở nên người có đức, có tài – làm được việc lớn, không chỉ rạng danh cho cá nhân mình mà còn làm mát lòng cha mẹ và vinh danh cho dòng họ, tổ tông.
Kỳ thứ - Phất nhục, nghĩa là không được làm điều xấu xa, gây ảnh hưởng đến cha mẹ, dòng họ. Ví như, những kẻ không chịu tu tâm dưỡng tính mà làm những điều xằng bậy: Ăn cắp, hại người, gây rối loạn xã hội... rồi phải chịu sự trừng phạt của pháp luật. Đó là những việc làm không chỉ gây tổn hại cho bản thân mà còn làm nhục nhã cho đấng sinh thành. Vì vậy cấp độ thứ hai về chữ hiếu là phải tránh cho được những điều như vậy.
Kỳ hạ - Năng dưỡng, nghĩa là trách nhiệm phụng dưỡng của con cái với cha mẹ; "dưỡng nuôi cố làm đẹp lòng, bệnh đau tận tâm lo lắng, ma chay hết sức xót thương, tế lễ nghiêm trang rất mực" . Đó là cấp độ thứ ba của lòng hiếu thảo.
Như vậy, để làm trọn vẹn được chữ hiếu thì trước tiên người làm con phải phấn đấu tiến bộ để vinh thân chứ chưa hẳn chỉ là cúc cung phụng dưỡng. Mà để thực hiện được Kỳ thứ, Kỳ hạ đương nhiên phải có được sự tôn thân. Đó mới là điều kiện cần và đủ cho vẹn toàn chữ hiếu. Tuy nhiên, với ba cấp độ nêu trên thì không thể thiếu được cấp độ nào, bởi nếu chỉ Tôn thân mà không làm được Kỳ thứ, Kỳ hạ thì trước sau sự tôn thân ấy cũng tan thành mây khói.
Thì ra điều mong mỏi lớn nhất của các đấng sinh thành vẫn là mong con cháu phải rèn luyện cho tiến bộ. Phải chăng, sự mong mỏi ấy cũng hoàn toàn phù hợp với câu tục ngữ "Con hơn cha là nhà có phúc" của người Việt chúng ta.

                                                                                         C.M

02 tháng 12 2018

Phiếm luận: CẢI CÁCH GIÁO DỤC HAY TẠO NÊN MỘT NHÓM "CƯỜNG HÀO" TRONG LỚP TRẺ

Ảnh Mạng Internet (Chỉ có mục đích minh họa)

          Mấy tháng nay ngày nào cháu tôi cũng phải đi học từ 6 giờ sáng. Nhất là về cuối năm - mùa đông, nhiều hôm thấy thằng bé cõng ba lô sách vở lật đật đi học từ lúc trời còn chưa rõ mặt người.
          Thấy cháu vất vả quá tôi mới bảo:
          - Sao 7 giờ mới vào lớp mà ngày nào cháu cũng đi học sớm thế?
          - Dạ, cháu phải đi sớm để trực nhật – cháu tôi trả lời.
          - Sao ngày nào cũng trực nhật? – tôi lại hỏi.
          Thằng bé mếu máo:
          - Cháu bị phạt.
          - Bị phạt? – tôi ngạc nhiên nhắc lại – Sao phạt lắm thế, hàng mấy tháng nay ngày nào cũng thấy cháu đi sớm, hóa ra ngày nào cũng chịu án phạt à?.
          Được dịp, cháu tôi thổ lộ hết những bức xúc như bị kìm nén bấy lâu nay. Cháu kể: Là một lần cháu bị cô giáo phạt do lỗi nói chuyện riêng trong lớp, lẽ ra án phạt ấy cũng chỉ có hiệu lực một tuần thôi. Nhưng vì việc giám sát thực thi lệnh phạt lại được Cô giao cho "Hội đồng tự quản" thực thi. Trong cái hội đồng này chỉ gồm một nhóm 4 người là chủ tịch, phó chủ tịch và ủy viên. Đặc biệt, quyền hành của "vị" Chủ tịch là rất lớn. Chủ tịch có quyền được kéo dài lệnh phạt, nếu kẻ có lỗi thực thi lệnh phạt không nghiêm. Nghĩa là, sau mỗi buổi trực nhật, Hội đồng tự quản kiểm tra, chỉ còn một vệt bụi trên sân hoặc sàn nhà là lập tức lệnh phạt được gia hạn.
          Tuy nhiên, việc gia hạn lệnh phạt cũng còn phụ thuộc nhiều vào thái độ chủ quan của ngài Chủ tịch, nếu đối tượng chịu phạt lại thắc mắc hoặc có thái độ  phản đối quyết định thì ngày nào Chủ tịch cũng bới lông, tìm vết để gia hạn.
          - Tại sao vô lý như thế mà các cháu không báo cáo lên cô giáo? – tôi sốt ruột hỏi lại.
          Cháu thưa:
          - Không phải chúng cháu không báo cáo, nhưng báo cáo của những kẻ "tội đồ" bị phạt thường là vô hiệu. Bởi Chủ tịch Hội đồng tự quản luôn chiếm được lòng tin của cô giáo. Với lại, cô giáo bận trăm công, ngàn việc thì còn hơi đâu mà để ý đến những chuyện vặt, đó là việc của Hội đồng tự quản!.
          Tôi đành chép miệng, thì ra là như vậy!.
          Cứ tưởng cải cách là gì, hóa ra cải cách cũng là để lập ra một cái gọi là "Hội đồng tự quản", nhằm sẻ chia bớt việc quản lý của giáo viên với học trò. Tôi liên tưởng đến chức "Trưởng tràng" mà cụ Nguyễn Khuyến có kể khi Cụ đi học chữ Nho từ thời Phong kiến. Thời đó một thầy dạy có đến mấy chục học trò, lại tuổi tác, trình độ bất cập phân. Nên thầy đành giao cho một trò lớn tuổi học ở lớp cao nhất, thay thầy quản lý chung. Anh này cũng có quyền hành lớn lắm.
          Ngày nay, học sinh theo lớp đồng tuổi. Mà việc lập ra cái Hội đồng tự quản, giao cho quyền hạn quá lớn, thậm chí còn gia hạn cả lệnh phạt bạn đồng môn nữa thì thật là khó chấp nhận.
          Phải chăng, việc lập ra Hội đồng tự quản, với những "ngài Chủ tịch" có cả quyền năng thay thầy cô để phạt bạn như thế, chẳng khác nào lập nên một nhóm cường hào ngay ở tuổi ấu thơ. Nguy hại hơn là nó phân hóa và chia rẽ tình cảm bạn bè, tạo nên trong đầu óc non nớt của trẻ sự mâu thuẫn có tính giai cấp ngay từ khi mới chập chững vào đời.
          Quả thật là vô cùng nguy hại!
                                                                                                 C.M

                                                                                     (Chuyện đời thường)

24 tháng 11 2018

KINH NGHIỆM CHẾT

Ảnh từ Internet: chỉ có mục đích minh họa
         Ngày xưa cụ Nguyễn Công Hoan viết câu chuyện về cái chết  trôi của anh Xích – đó là một cái chết không bình thường nên cần phải khám tử thi để kết luận nguyên nhân. Thế mà chỉ vì mới chết lần đầu, chưa có kinh nghiệm, anh Xích lại chết "ngờ nghệch" đúng vào chiều thứ 7. Chủ nhật quan nghỉ việc, không đến khám nghiệm được, cái xác vì thế cứ trương phềnh, không ai dám vớt. Khổ cho dân làng điếc tai vì lũ quạ được dịp rủ nhau đến vừa réo, vừa rỉa làm loạn cả cái xóm nghèo.
            Câu chuyện chưa biết thật giả thế nào, nhưng cũng nhờ đó mà ông cụ Mão xóm Chùa tuy chưa được chết lần nào, nay đã thọ đến trên 90 xuân, nhiều lần cũng định chết, nhưng lần này cụ mới quyết định vĩnh biệt dương thế.
            Người ta bảo, sinh thời cụ cũng chẳng phải là người khỏe khắn gì cho cam, từ mấy chục năm trước đã ốm oặt ốm oẹo, không ít lần phải nhập viện cấp cứu mà rồi lại khỏi. Thấy bảo, đã có lần cụ nằm liệt hàng tháng, ông trưởng đội bát âm Duy Đến vội lân la hỏi thăm, nếu cụ có quy tiên thì Đội xin được đăng cai phục vụ. Thế mà cụ lại hồi phục, mấy hôm sau thấy cụ vẫn chống gậy đi nhoay nhoáy.
            Sau mỗi lần như thế, cụ bảo:
            - Tôi chửa chết được, vì thẳng Cả nó vẫn chưa thành đạt!.
            Ra vậy, anh cả nhà cụ Mão có tiếng là tiến bộ. Tuy xuất thân từ anh cán bộ hợp tác xã nông nghiệp, rồi lên làm lãnh đạo cấp xã, cấp huyện, nay anh ấy đã lên đến cấp tỉnh. Nhưng cứ mỗi lần cụ Mão định chết là laị có tin anh Cả sắp được bổ nhiệm vào chức mới. Mới đây cũng vậy, trước tết Âm lịch cụ ốm đến "thập tử, nhất sinh", tưởng là đi. Vậy mà có tin ông giám đốc sở chuẩn bị về hưu và người kế nhiệm sẽ là anh Cả nhà Cụ. Thế là cụ quyết định không chết nữa.
            Đúng như đồn đoán, ông giám đốc sở về hưu thật, tuần trước nghe tin vui là anh Cả đã được bổ nhiệm vào ghế giám đốc. Và, lần này thì cụ lại ốm to, hôn mê sâu rồi tắt thở!.
            Phải, chắc cụ biết được con đường quan lộ của anh Cả đến đây đã là nấc chót. Sau "đám" Cụ, dân trong vùng trầm trồ thán phục vì được chứng kiến một đám tang thật là hoành tráng, bởi cụ Mão đã chọn được thời điểm cần và đủ cho cái chết của mình.
            Cái chết của Cụ không uổng, vì còn đem lại nhiều lợi nhuận cho con, cho cháu. Nó rất đúng với quan niệm: "Thay vì lo như bố chết thì nay là mừng như bố chết!". Thế mới gọi là "chết già nhiều kinh nghiệm"!.
                                                                                                                           C.M
                                                                                                             Chuyện đời thường

02 tháng 8 2018

TỔNG BÍ THƯ NGUYỄN PHÚ TRỌNG: TỪ CẬU HỌC TRÒ NGHÈO ĐẾN NHÀ LÃNH ĐẠO VÌ NƯỚC, VÌ DÂN

Vic Tng bí thư Nguyn Phú Trng tái c cho thy uy tín ca ông trong Đng, trong nhân dân mt ln na được khng đnh. Nguyên Tng bí thư Lê Kh Phiêu nhn xét: “Anh Trng là nhà lý lun sc bén ca Đng ta. Anh là nhà cng sn chân chính, chí tình, chí nghĩa. Tính cách thì nhân hu, nhưng quyết lit, không khoan nhượng trong công cuc chnh đn Đng đ Đng ta ngày càng trong sch hơn, xng đáng là “công bc, là đy t trung thành ca nhân dân” như H Ch tch tng khng đnh”.
Ưu tiên hàng đu ca Tng bí thư
 Trong những ngày Đại hội XII đang diễn ra, khi Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng tái cử BCH TƯ với số phiếu bầu cao và nhất là khi ông được BCH TƯ khóa XII bầu làm Tổng bí thư nhiệm kỳ mới, nguyên Tổng bí thư Lê Khả Phiêu đã chia sẻ những suy nghĩ của mình về Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng: “Anh Trọng là nhà lý luận sắc bén của Đảng ta. Anh là nhà cộng sản chân chính, chí tình, chí nghĩa. Tính cách thì nhân hậu, nhưng quyết liệt, không khoan nhượng trong công cuộc chỉnh đốn Đảng để Đảng ta ngày càng trong sạch hơn, xứng đáng là “công bộc, là đầy tớ trung thành của nhân dân” như Hồ Chủ tịch từng khẳng định”.
Nguyên Tổng bí thư Lê Khả Phiêu cho rằng Đại hội XII đã sáng suốt lựa chọn ra được một BCH TƯ, đứng đầu là Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng, đủ tài năng và đức độ để lãnh đạo đất nước trong giai đoạn nhiều thời cơ, nhưng thách thức cũng không hề nhỏ. Nguyên Tổng bí thư Lê Khả Phiêu cũng cho rằng, phòng chống tham nhũng là một trong những công việc quan trọng mà BCH TƯ, Bộ Chính trị khóa XII cần tiến hành một cách có hiệu quả.
Vâng, chắc chắn đó là một trong những nhiệm vụ quan trọng được Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng ưu tiên. Không phải ngẫu nhiên mà ngay trước thềm Đại hội Đảng XII, tại hội nghị tổng kết công tác phòng chống tham nhũng, Tổng bí thư đã nhấn mạnh: “Sau Đại hội 12 của Đảng, công tác phòng, chống tham nhũng phải được quan tâm đẩy mạnh hơn nữa, có bước tiến mạnh hơn nữa, hiệu quả rõ ràng hơn”. Đó là cam kết của người đứng đầu Đảng ta. Ông cũng nhấn mạnh rằng, đây cuộc đấu tranh lâu dài, gian khổ, phức tạp, đấu tranh trong mỗi con người, mỗi tổ chức. 
Để công tác phòng và chống tham nhũng có hiệu quả Tổng bí thư yêu cầu: “Mỗi người phải gương mẫu, trong sạch đã rồi mới chống tham nhũng được, mới phòng được; hết sức liêm khiết, trong sáng, thuộc bài; làm đúng chức năng, nhiệm vụ của mình tức là đúng vai; thuộc bài là thuộc luật pháp, thuộc cơ chế, chính sách, những quy định trong Đảng, đừng làm chồng chéo nhau, phối hợp cho tốt thì nhất định công việc sẽ tốt”.
Hc trò nghèo hc gii
Giáo sư Hồ Ngọc Đại, “cha đẻ” của Công nghệ giáo dục, người bạn thân thiết của Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng nói với tôi, ông Trọng là một nhân cách lớn. Nghĩa tình, yêu thương đồng chí, đồng đội, sống liêm khiết, trong sạch, nhưng rất ghét thói sa hoa, bòn rút của công, bè phái, cánh hẩu.
Nhân cách ấy không ra đời ngẫu nhiên!
Cách đây 5 năm, năm 2011, khi ông Nguyễn Phú Trọng vừa được bầu làm người đứng đầu Đảng ta, chúng tôi đã có dịp trò chuyện với bà Đặng Thị Phúc, cô giáo tiểu học của ông Nguyễn Phú Trọng. Dạo ấy, ở tuổi 80, nhưng bà còn rất minh mẫn. Cô giáo già kể: “Năm 1956 sau khi học xong khóa sư phạm liên khu 3, tôi được phân công về xã Mai Lâm, Từ Sơn, Bắc Ninh (nay thuộc Đông Anh, Hà Nội) dạy học. Nhà trường phân công tôi làm giáo viên chủ nhiệm lớp 4. Vì số lượng học sinh của xã Mai Lâm ít quá nên phải kết hợp với xã Đông Hội để đủ một lớp.
Xã Mai Lâm có 33 em, còn xã Đông Hội có 15 em. Các em, với nhiều độ tuổi khác nhau, đã tụ tập về mái đình thôn Mai Hiên để học tập. Cậu học trò nhỏ tuổi nhất, ở xã Đông Hội, là Nguyễn Phú Trọng. Lớp học tềnh toàng, không có cửa nên rất lộng gió, bàn ghế thì cọc cạch, chân thấp chân cao. Sân đình được dùng để phơi lúa nên những ngày nắng, lớp học nóng hầm hập vì hơi lúa bốc lên, ngày mưa học trò phải dồn lại một bên để tránh ướt. Trò Trọng bé nhỏ nhất lớp nên tôi muốn đưa trò lên ngồi bàn đầu cho dễ tiếp thu bài giảng. Tuy nhiên trò Trọng không chịu rời bàn thứ tư, cạnh cậu lớp trưởng tên là Duy.
Khi ấy tôi nghĩ trò Trọng đi học nhờ trường bạn, lại bé nhất lớp nên không dám rời lớp trưởng. Giữa đám học trò lam lũ ấy tôi có ấn tượng nhất với Nguyễn Phú Trọng bởi trò ấy nhỏ tuổi nhất nhưng lại học giỏi nhất lớp. Trò Trọng ngày ấy tóc để mái chéo, tóc hơi hoe vàng, nước da trắng xanh. Trong lớp, cậu rất thông minh, giơ tay phát biểu rất hăng say, chữ viết tròn và đẹp. Trò Trọng đi học từ nhà ở thôn Đông Trù phải qua thôn Lê Xá, vượt qua một cánh đồng mới đến được lớp. Quãng đường dài gần 3km toàn đường đất, rất khó đi, nhất là vào những ngày trời mưa dầm, cậu học trò nhỏ phải cố bấm ngón chân xuống đường cho khỏi ngã.
Suốt thời gian học lớp 4 cậu chỉ mặc mỗi một bộ quần áo nâu, không kể đông hay hè. Đó là chiếc áo bà ba xẻ tà, quần màu nâu, đi chân đất. Cuối năm học, vì trò Trọng là học sinh xuất sắc, giỏi toàn diện, đứng vị trí thứ nhất nên được báo cáo điển hình trước toàn trường. Khi biết tin vui đó, cậu lại rất ngại, khuôn mặt ngây thơ cứ ngẩn ra vì không biết phải nói gì trước đông đảo thầy cô và các bạn của trường”.
Cô Phúc còn kể, sau khi học xong cấp 1 (tiểu học) trò Trọng thi đỗ và lên học trường cấp 2 Nguyễn Gia Thiều, trò vẫn thường cùng anh lớp trưởng Duy đến thăm cô. Sau đó, cô chuyển nhà đi nơi khác nên hai cô trò mất liên lạc từ đó. Mãi đến năm 2005, cô Phúc mới có dịp gặp lại người học trò cũ của mình, khi ấy ông đã là Chủ tịch Quốc hội và đến thăm cô vào dịp năm mới.
Thy chung, nghĩa tình
Chúng tôi có may mắn là được gặp và trò chuyện với khá nhiều người thân thiết cũng như những người từng làm việc dưới quyền ông Nguyễn Phú Trọng. Tất cả đều có chung nhận xét rằng, ông là người thủy chung, nghĩa tình với bạn bè, đồng chí, đồng đội.
Năm 2011, trong một dịp về công tác tại Trường THPT Nguyễn Gia Thiều (Hà Nội), nơi Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng từng theo học, tình cờ chúng tôi đã được lãnh đạo nhà trường cho xem cuốn nhật ký của một cựu học sinh của trường đã hy sinh anh dũng trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Tên anh là Doãn Duy Lực. Điều thú vị là trong cuốn nhật ký này có hai bức thư: một thư Doãn Duy Lực gửi cho người bạn thân của mình là Nguyễn Phú Trọng. Bức kia là của Nguyễn Phú Trọng gửi cho Doãn Duy Thế, anh trai của Doãn Duy Lực.
Lá thư của Doãn Duy Lực gửi Nguyễn Phú Trọng đề ngày 8/6/1964, viết: “Phú Trng thân yêu, thương nh! Nhìn li dòng ch nét mc còn tươi màu, Lc tưởng tượng li c mt quá kh xa xôi mà trong 6 năm qua chúng ta đã gn bó, đùm bc ln nhau trong nhng giây phút đáng ghi nh. Lc mun lưu li đây mt trang giy ghi nhng ý nghĩ gin d ca Lc đi vi Trng trong nhng lúc xa nhau chưa được 1 năm nh. Lc và Trng đã sng vi nhau trong nhng năm qua nhng ngày y đáng nh lm vì nó là kết tinh ca mt tình bn chân tht, không chút la đo. Mình đã đt tình bn y cao nht song vì điu kin rt đơn gin ca cuc sng buc chúng ta phi ly tán mi đa mt phương. …”.
Bức thư của Nguyễn Phú Trọng gửi Doãn Duy Thế đề ngày 1/8/1964. Khi ấy ông Nguyễn Phú Trọng đang là sinh viên năm thứ 2, văn khoa, Đại học Tổng hợp Hà Nội (nay là Trường Đại học KHXH&NV, Đại học Quốc gia Hà Nội). Bức thư được viết trên trang giấy lấy từ cuốn sổ tay, nét chữ nắn nót, nhỏ, đẹp (được ghim vào cuốn nhật ký của Nguyễn Duy Lực), viết: “Anh Thế kính yêu ca em! Có l anh hết sc ngc nhiên khi nhn được lá thư ca đa em chưa quen biết này. Em gii thiu em vi anh nhé. Em là Trng (Nguyn Phú Trng) là người bn, người đng chí rt thân thiết ca Lc. Hai đa chúng em đã quen nhau, đã thân nhau được hơn 6 năm nay, lúc nào cũng k vai sát cánh, giúp đ nhau, thông cm hoàn cnh ca nhau và đã coi nhau như anh em rut tht. Hoàn cnh em cũng tương t như hoàn cnh Lc. Gia đình cũng túng thiếu nghèo đói t xưa, cuc đi hc sinh ca chúng em cũng gian kh, vt v.
Em kém Lc 1 tui nhưng có l trông kh người có đm hơn Lc mt chút. Hin nay em có được may mn là tiếp tc hc Đi hc. Em hc khoa Văn trường Đi hc Tng hp, đây là ngành mà em rt ưa thích. Em đã hc được 1 năm và đang ngh hc, lao đng quê. Năm hc va qua em cũng hài lòng vi kết qu hc tp và tu dưỡng ca em, mc dù điu kin kinh tế hết sc khó khăn. Chúng em có gi thư cho nhau và đng vin nhau luôn. Lc có bo em đến thăm anh, anh hãy coi em như Lc nhưng vì điu kin chưa th đến được, em mong anh thông cm, và hôm nay em viết thư này đ anh khi b ng khi anh thy em đến, hi thăm sc khe ca anh. Mt thiếu sót rt ln là em vi Lc thân nhau đã lâu mà em ít đến thăm anh, nht là thi gian anh b mt mà em ch biết anh, hi thăm anh qua Lc. Anh tha li cho em nhé”.
Không lâu sau khi nhận được bức thư của ông Nguyễn Phú Trọng, ông Doãn Duy Lực hy sinh trong một trận đánh ác liệt tại chiến trường. Cuốn nhật ký của liệt sĩ Lực đã được các đồng đội của ông gìn giữ và sau đó mang ra Bắc trao tận tay cho gia đình. Sau đó gia đình liệt sĩ Lực trao tặng trường THPT Nguyễn Gia Thiều.
Sau này học xong, ra trường và về làm tại Tạp chí Cộng sản, ông Nguyễn Phú Trọng luôn được cấp dưới nể phục và kính trọng.
“Ông là người nghiêm khắc trong nghề nghiệp, có lý tưởng. Điều đáng kính trọng ở ông là sự tận tâm với công việc. Là người từng nhiều năm được làm việc dưới quyền ông, được ông dìu dắt, chỉ bảo, chúng tôi học được rất nhiều ở ông tính chuyên cần, cẩn trọng, cần kiệm. Ông là mẫu  người “Cần, kiệm, liêm chính, chí công, vô tư” như Bác Hồ từng dạy”- ông Nhị Lê, Phó tổng biên tập Tạp chí Cộng sản nhận định.
Khi đã trở thành Chủ tịch Quốc hội ông Nguyễn Phú Trọng vẫn là cán bộ cấp cao mẫu mực, sống trong sáng và liêm khiết. GS TS Nguyễn Minh Thuyết, nguyên  Phó chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa, Giáo dục, Thanh niên, Thiếu niên và Nhi đồng của Quốc hội có lần kể ông nhận được Thiếp mời cưới con của Chủ tịch Quốc Hội Nguyễn Phú Trọng, nhưng đã qua ngày đám cưới. Ông cứ trách người trợ lý của Chủ tịch: “Anh đưa thiếp mời cho tôi chậm quá. Dù sao tôi cũng là cấp dưới và lại là chỗ thân tình với anh Trọng. Không đi dự đám cưới con anh ấy được tôi áy náy quá”. Người trợ lý cười: “Anh không đọc kỹ à? Đấy là thiếp báo hỷ. Anh Trọng dặn tôi là qua ngày cưới rồi hẵng đưa cho anh!”.
Thế nước đi lên
Không phải ngẫu nhiên mà nguyên Tổng bí thư Lê Khả Phiêu nhấn mạnh rằng, ông tin là BCH TƯ mới đứng đầu là Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng sẽ phát huy tối đa khối đại đoàn kết toàn dân để xây dựng đất nước hướng tới mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” như khẩu hiệu (cũng là mệnh lệnh) của Đại hội Đảng XII.
Trong Báo cáo trước 1.510 đại biểu tham dự Đại hội Đảng XII và cũng là với toàn dân, Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nhấn mạnh: “Đẩy mạnh công cuộc đổi mới, nhưng đổi mới phải luôn quán triệt quan điểm “lấy Dân làm gốc”, vì lợi ích Nhân dân, dựa vào Nhân dân, phát huy vai trò làm chủ, tinh thần trách nhiệm, sức sáng tạo và mọi nguồn lực của Nhân dân. Đổi mới phải toàn diện, đồng bộ, có bước đi phù hợp, tôn trọng quy luật khách quan, xuất phát từ thực tiễn, bám sát thực tiễn, coi trọng tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận, tập trung giải quyết kịp thời, hiệu quả những vấn đề do thực tiễn đặt ra”.
Điều quan trọng nhất mà người đứng đầu Đảng ta nhiều lần nhấn mạnh là “Phải đặt lợi ích quốc gia, dân tộc lên trên hết. Xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, có năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu cao. Đấu tranh đẩy lùi suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, quan liêu, tham nhũng là nhiệm vụ trọng tâm, yếu tố quyết định cho thắng lợi của sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa”.
Với một BCH TƯ mới, với một người đứng đầu Đảng nhân hậu, nghĩa tình, nhưng lại quyết liệt, tỉnh táo; với một cương lĩnh trí tuệ, sáng tạo, đầy thực tiễn, chúng ta hoàn toàn tin tưởng rằng, đất nước thân yêu của chúng ta sẽ từng bước vượt qua khó khăn, thử thách để để đạt được mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.
                                                                                             T.L
                                                                                                     Nguồn VIET TIMES