Cả Mõ

camoz77.blogspot.com/

16 tháng 10 2013

Lão Khoa làm cố vấn ái tình

VOV.VN -Nhà thơ Trần Đăng Khoa trả lời thư bạn đọc bằng giọng văn hóm hỉnh của riêng mình

Trần Đăng Khoa (Hí họa của họa sỹ còm)

**Anh Khoa ơi, em rất thích chuyên mục này có sự tham gia của anh. Nội dung rất hay. Mới mẻ và hấp dẫn. Các anh cũng nên dành một vài trang cho giới học đường. Lượng bạn đọc ấy đông lắm đấy. Trong trường em, nhiều người đọc lắm.
Học sinh em bây giờ có đứa nghịch như quỷ. Hồi còn là học sinh, anh có  nghịch ngợm không? Trò nghịch của anh thường là gì?Nghe nói khi còn có tí tuổi, anh đã làm “cố vấn ái tình”. Thực hư chuyện ấy ra sao? (Vũ Hà Phan, Vũ Thư – Thái Bình) 
**Có lần thấy trên Blog tòa soạn, anh bàn về tình yêu, lại tư vấn chuyện chăn gối như trên chuyên mục “Cửa sổ tình yêu” phát trên sóng Đài. Em đọc ngay. Đọc vì tò mò, ông này biết quái gì chuyện tình dục mà cũng bàn chuyện giường chiếu. Nhưng đọc thì công nhận ông anh “siêu” thật.  Đọc rồi không quên được. Em cứ bật cười. Tự dưng cũng muốn nói câu gì đó! Đúng rồi! Lòng tham vô độ của đàn ông.  Đó chính là bản chất của con đực: chinh phục rồi chiếm đoạt và cả thèm chóng chán. Em công nhận ông anh là chuyên gia giường chiếu, chí ít ở mặt lý thuyết.
Nghe nói hồi nhỏ, anh còn làm người tư vấn yêu đương. Nghĩa là anh đã trác táng từ thuở bé…(!) Anh có thể bật mí được không?(Hương Tình ái, Tân An- Lập Thạch- Phú Thọ)
Trần Đăng Khoa: Cám ơn cô giáo Vũ Hà Phan đã quan tâm đến Blog Tòa soạn. Nguyện vọng của cô giáo, mong căn nhà ấm cúng VOV trổ thêm một ô cửa sổ để lé mắt chiêm ngưỡng giới học đường là một gợi ý hay, tôi xin chuyển cho Ban biên tập tòa báo nghiên cứu.
Trẻ con thì thời nào cũng thế thôi, cô giáo ạ. Các cụ nói cấm có sai bao giờ. Các cụ bảo: Nhất quỷ nhì ma, thứ ba học trò. Quỷ thì không có rồi. Ma cũng chẳng có nốt. Thế thì chỉ còn đám học trò thôi. Tôi cũng là một con quái vật đứng sau ma quỷ. Chẳng “tử tế” gì đâu. Đối với cái lũ đứng thứ ba mà không có thứ nhất, thứ nhì ấy thì khoái nhất là mỗi kỳ nghỉ hè. Không phải bây giờ mà từ xửa xưa kia. Chả thế mà cụ Nam Cao cũng bảo: Buổi sáng sướng nhất của một cậu học trò có lẽ là buổi sáng đầu tiên trong vụ nghỉ hè.
Đúng quá! Nghỉ hè rồi. Không phải bù đầu vào chuyện bài vở. Có thể tha hồ đi chơi thoả thích, mệt thì lăn ra giường mà ngủ. Muốn ngủ đến bao giờ cũng được. Sướng! Vua chẳng bằng mình. Ông giời cũng chẳng bằng mình!
Ấy là nói đám học trò ở thành phố thôi, cô giáo ơi. Còn lũ nhà quê chân lấm tay bùn chúng tôi thì chẳng bao giờ có mùa hè. Nghĩa là chẳng có sự chơi bời nào hết. Suốt ngày úp mặt vào đồng ruộng. Mùa hè thì cả ngày làm quần quật trên đồng.
Có khác chăng vào kỳ nghỉ hè, ở cái làng quê hẻo lánh của tôi có tưng bừng hơn đôi chút, bởi sự có mặt của anh Bản. Anh là một ông giáo, đi dạy học ở tỉnh xa. Chỉ có vụ hè anh mới về nhà. Anh về là tưng bừng khắp làng trên xóm dưới. Rồi theo yêu cầu của ông chủ tịch xã, anh đến dự các cuộc họp và nói chuyện thời sự, toàn những chuyện vui anh thu lượm được qua báo, qua đài, rồi véo von ca mấy câu cải lương rất chi là mùi mẫn. Cứ như ông chủ tịch xã nói thì “không khéo làng này khối cô chết mê chết mệt vì nó!"
Chẳng biết ở làng có cô nào "chết mê chết mệt" anh không, nhưng có một người quả có mê anh thật. Đó là chị Nụ. Chị là xã viên chăn nuôi lợn. Người chị thấp đậm, đi lạch bạch, nhưng trắng nõn. Cặp má bầu bĩnh, lúc nào cũng đỏ au như quả táo chín. Chị hay rủ tôi sang nhà anh Bản mượn sách, toàn những cuốn dày cộp. Mượn tối hôm trước, sáng sớm hôm sau, chị đã mang trả. Chị kẹp vào trang sách hai sợi chỉ hồng buộc xoắn vào nhau. Nhưng anh Bản thì dường như không biết đến sợi chỉ ấy. Anh cứ hí hoáy đếm xem cuốn sách có bị thiếu mất trang nào không? Anh bảo, cho mượn sách anh không sợ, anh chỉ sợ người ta xé mất sách. Chị Nụ bực lắm. Rồi bao nhiêu nỗi bực dọc không kìm nén được, chị lại trút sang tôi:
- Người đâu mà ngốc thế. Mang danh trí thức mà lão còn đần hơn cả mấy con lợn con của chị. Chị tặng lão cái khăn mùi-soa. Trong khăn, chị  thêu hai con chim đang mớm cho nhau. Lão lại tưởng chị  quên cái khăn trong cuốn sách, lại mang đến trả "Người đâu mà đoảng, có mỗi cái khăn cũng bỏ quên thế này thì còn làm được gì". Em bảo thế chị có điên không?"
Chị gầy xọp hẳn đi. Rồi mấy ngày sau, chị  lại tìm tôi. Cứ lúc nào buồn mà không biết trút nỗi niềm vào đâu, chị lại tìm đến tôi. Có lẽ vì thế mà bạn Tân An, bút danh Hương Tình Yêu lại nghĩ tôi là “cố vấn ái tình chăng”.
Ở quê tôi hồi đó, ai cũng quý anh Bản. Làng có đám cưới, người ta lại vời anh về. Đám cưới nào, người ta cũng muốn anh làm chủ hôn. Anh vừa cầm cái micro là cả rạp đang ầm ĩ là thế bỗng im tăm tắp. Nhiều người lại cứ tưởng là đám cưới thuê được anh chủ hôn ở đâu đó, chứ không dám tin đó là anh giáo con ông phó cối làng mình.
Đầu tiên, thế nào anh cũng yêu cầu quan viên hai họ tặng cô dâu chú rể một tràng pháo tay. “Hỏng, hỏng. Làm lại nào. Tôi ra hiệu đụp, bà con hẵngđụp nhé. Tôi chưa ra hiệu sao bà con đã vội đụp rồi. Chỉ được cái ăn cơm trước kẻng”. Rồi anh vẫy bên phải, vẫy bên trái, vẫy đều cả hai bên. Tiếng vỗ tay ào lên như sóng. Còn anh thì quay cuồng như con chim cánh cụt, vừa từ dưới biển lên, đang vẩy cánh cho khô. Mấy bà thợ cấy nắc nỏm: “Gớm cái thằng xuya thật. Nó nói đến kiến trong lỗ cũng phải bò ra!”
Ấy chỉ có thế mà chị Nụ mê đấy. Chị bảo tôi:
- Chị yêu lão lắm, Khoa ạ. Chị không còn làm ăn gì được nữa, mà lão thì vừa ngốc vừa đần. Vậy mà không hiểu sao, lúc nào chị cũng nghĩ đến lão. Bây giờ chị cứ nói bộp vào mặt lão là chị rất yêu lão, em bảo có nên không?  Có vô duyên, có mang tiếng là cọc lại đi tìm trâu không? Nhưng mà trâu ngốc, trâu ngu, nên cọc mới phải đi tìm...
Tôi ngẩn ra nhìn chị. Thật là chẳng còn hiểu ra làm sao cả. Chị  rơm rớm nước mắt:
- Chị rất tin em, em đi đây đi đó nhiều, em biết làm thơ, lại chăm chỉ đọc sách, báo...
- Nhưng chị  phải xem anh ấy có yêu chị không? Chị nên thử đã, rồi hãy nói thật với anh ấy!
- Thử thế  nào? - Chị có vẻ tò mò. 
- Thì chị  cứ gặp anh ấy, tung ra một cái tin vịt, là chị  sắp phải lấy chồng, lấy gã Tứ hâm. Bố  chị bắt phải lấy...
Chị Nụ  giãy nảy:
- Lão Tứ thọt  ấy à? Ối giời, cái lão vừa chấm phẩy, vừa điếc lác, làm sao mà lấy được...
- Thì chị chỉ "thử" thôi mà! Thử xem anh ấy phản  ứng ra sao, nếu yêu chị, anh ấy sẽ cuống lên cho mà xem...
Chị Nụ  thở phào. Đôi mắt ánh lên một tia sáng trong trẻo. Tự dưng, tôi thấy chị rất đẹp. Một vẻ đẹp thật nhuần hậu. Chị cười:
- Ừ, mày đọc nhiều sách cũng có khác. Sách nó bảo thế  hở?
Chị Nụ vui lắm. Nhưng tôi còn vui hơn. Vui và hồi hộp, và phấp phỏng nữa. Chả gì mình cũng mới tò tè học có lớp 7, thế mà đã đi  làm cố vấn cho người lớn rồi, mà cố vấn ái tình hẳn hoi nhé. Ngày hôm sau, tôi tìm chị Nụ:
- Chị thấy anh ấy sao? Có luống cuống hốt hoảng không?
- Hốt cái khỉ  gì? - Chị Nụ rơm rớm nước  mắt. - Lão lại mừng như vớ được của: "Bao giờ cưới, Nụ nhớ báo trước cho tớ nhé, để tớ làm chủ hôn". Ối giời ơi là giời. Em bảo thế thì chị còn biết làm thế nào?
- Thế thì chị trả thù lão đi!
- Cái gì? - Chị  Nụ trợn mắt nhìn tôi.
- Trả thù! Nghĩa là chị lấy béng luôn cái gã chấm phảy ấy cho lão tiếc!
- Ối giời ơi, làm sao lại có chuyện thế được! Cứ tưởng mày đọc nhiều sách, mày thông minh, mày được người ta gọi là Thần Đồng. Hoá ra mày cũng ngu! Thần đồng gì mà ngu hơn cả lợn!
Nói rồi, chị bẻ ngoéo luôn cành xoan, còn tôi thì  ù té chạy. Chị vung cành xoan lạch bạch đuổi theo tôi, như đuổi một con lợn vừa mới xổng chuồng.../.

                                                                                                                                                                        Trần Đăng Khoa/VOV


13 tháng 9 2013

NGUỒN GỐC TẾT VÀ TẾT TRUNG THU


             “Tết” là một từ được xuất xứ bởi nghĩa Hán -Việt của từ “Tiết” mà ra. Theo một số tác giả thì Tết là biến âm của từ “Tiết” trong “Tiết khí’. Ban đầu là dùng để chỉ những lễ đặc biệt của người dân Việt xưa, là những dịp nương theo mùa vụ, còn mùa vụ thì lại nương theo thời tiết mà thành. Vì vậy trong một năm thì lớn nhất là Tết Nguyên đán (vào tiết đầu Xuân), dân gian còn gọi là Tết cả. Rồi đến Tết Trung thu (vào giữa mùa Thu) rằm tháng Tám. Ngoài ra còn có Tết Đoan ngọ (mùa Hạ) mồng năm tháng Năm, Tết Hàn thực mồng ba tháng Ba. Ở một số nơi thuộc Đồng bằng Bắc Bộ còn giữ phong tục ăn Tết Cơm Mới (mồng mười tháng Mười âm) và Tết Trùng cửu (mồng chín tháng Chín). 
Theo truyền thuyết Trung Hoa, tết Trung thu được xuất phát vào thời nhà Đường. Chuyện kể rằng, vua Đường Minh Hoàng dạo chơi  trong vườn Ngự Uyển vào đêm rằm tháng tám âm lịch. Đêm Trung Thu, trăng rất tròn và trong sáng. Trời thật đẹp, không khí lại mát mẻ. Nhà vua đang thưởng thức cảnh đẹp thì gặp đạo sĩ La Công Viễn, còn  gọi là Diệp Pháp Thiện. Đạo sĩ có phép tiên đưa nhà vua lên cung trăng. Ở đấy, cảnh trí càng đẹp hơn. Nhà vua hân hoan thưởng thức cảnh tiên trong âm thanh du dương và ánh sáng huyền diệu cùng các nàng tiên tha thướt xiêm y đủ màu, xinh tươi múa hát. Trong giờ phút tuyệt vời ấy nhà vua quên cả là trời đã gần sáng. Đạo sĩ phải nhắc, nhà vua mới ra về, nhưng trong lòng vẫn bâng khuâng luyến tiếc. 
Về tới hoàng cung, nhà vua còn vấn vương tiên cảnh nên đã cho chế ra Khúc Nghê Thường Vũ Y, và cứ đến đêm rằm tháng tám lại ra lệnh cho dân gian tổ chức rước đèn và bày tiệc ăn mừng, trong khi nhà vua cùng với Dương Quí Phi uống rượu dưới trăng ngắm đoàn cung nữ múa hát để kỷ niệm lần du nguyệt điện kỳ diệu của mình. Kể từ đó, việc tổ chức rước đèn và bày tiệc trong ngày rằm tháng tám đã trở thành phong tục của dân gian. 
Người Việt Nam ăn Tết Nguyên Đán là tết lớn nhất. Nhưng theo một sô tác giả thì người Việt cổ lại lại có lễ hội quan trọng vào mùa Thu (Có người cho đó là tết Trung thu). Bằng chứng là trên mặt trống đồng có in khắc hình ảnh lễ hội, hẳn phải là lớn nhất hoặc tiêu biểu nhất nên mới được người xưa chọn khắc lên mặt trống thiêng này. Ở đây có thấy hình bông lau, là thứ chỉ nở vào mùa thu. 
Trong văn hóa lúa nước của người Việt, Trăng có một ý nghĩa rất to lớn, bởi nó gắn liền với âm lịch (lịch mùa vụ và mọi hoạt động của người Việt cổ). Mùa thu lại là lúc tiết trời mát mẻ, khí hậu dễ chịu so với nhiều thời điểm khắc nghiệt khác trong năm. Ngày rằm tháng Tám là khi trăng sáng nhất và đẹp nhất. Lúc này còn là lúc công việc nông nhàn. Lẽ nào một tộc người ưa Lễ hội và thường trực ngắm trăng như người Việt lại chỉ xem trăng cho công việc làm ăn mà không là thưởng ngoạn, vì vậy mới có tết Trung thu. Điều đó không liên quan gì đến tích cổ về Trung thu của người Trung Hoa như phần dẫn tíchở trên.
Trong văn hóa người Việt, hình tượng trăng còn có điểm trái ngược với văn hóa Trung Hoa. Theo các giáo sư sử học Trần Quốc Vượng và Kim Định thì mặt trăng trong văn hóa Việt mang “giống đực”, khác với văn hóa Trung Hoa, trăng  là “giống cái”. Người Việt nói: “Ông trăng mà lấy bà trời”, hay ở bài đồng giao: “Ông giẳng, ông giăng (tức là trăng). Xuống chơi với cháu. Có bầu có bạn…” Về truyền thuyết câu chuyện Chú Cuội ngồi gốc cây đa càng thực sự là một tích chuyện thuần Việt hoàn toàn.
Trong kho tàng truyện kể dân gian có tích kể rằng, gia đình nọ sinh được 3 anh em, người anh cả tên là Thỏ Nâu, anh thứ 2 là Thỏ Trắng và người em gái út tên là Thỏ Ngọc. Năm ấy dân làng mất mùa, đói kém, vào dịp Trung Thu – tháng tám nhiều gia đình đã phải ly tán. Sau khi nhặt nhạnh tất cả những gì làm được thức ăn cho các con, bố mẹ 3 bạn thỏ đã từ biệt các con vào rừng xa để kiếm ăn. Ba anh em thỏ gạt nước mắt trông theo cho đến khi bóng bố mẹ khuất dần sau rặng núi xa xa.
Trời vẫn mưa như trút, gió rét lạnh buốt xương. Ba nahh em thỏ phải ôm nhau cho đỡ lạnh. Thương em nên Thỏ Nâu đã ra ngoài kiếm củi khô để sưởi ấm cho hai em, không may bị ốm nặng. Thức ăn bố mẹ để lại ngày một ít đi. Do đói, rét và chăm anh nên thỏ Trắng cuối cùng cũng bị ốm. Gió và mưa mỗi lúc càng mạnh, khiến căn nhà nhỏ vốn đã chông chênh, giờ đây như muốn đổ sập. Không còn một nhánh củi khô nào, thức ăn cũng đã cạn hết. Nhìn hai người anh ốm mê man, chân tay lạnh ngắt khiến Thỏ Ngọc rất xót xa...Sau một hồi tìm kiếm, cuối cùng cô bé đã vui sướng khi nhìn xuống mái tóc của mình. Đúng rồi, cô sẽ cắt mái tóc của mình để làm củi đốt sưởi ấm cho 2 anh...Khi 2 người anh tỉnh dậy thì thấy Thỏ Ngọc nằm bất tỉnh, hai anh vội lay gọi em. Thì ra, sau khi cắt đi mái tóc của mình để sưởi ấm cho 2 anh, cô bé còn cắn bật máu tay  mình để tiếp sức cho 2 anh. Thỏ Trắng và Thỏ Nâu khóc gào gọi tên em, nhưng Thỏ Ngọc vấn nằm im, mắt nhắm nghiền. Vừa khi đó bố mẹ của 3 anh em cũng về đến, trên tay họ là giỏ bánh bột trắng thơm phức. Các con ơi, bố mẹ đã kiếm được thức ăn rồi!. Nhưng tiếng reo của họ đã vội ngừng lại khi nhìn thấy cô con gái út Thỏ Ngọc. Con ơi tỉnh dậy mà nếm miếng bánh bố mẹ đã mang về này. Nhưng mặc cho bố mẹ gọi, Thỏ Ngọc đã vĩnh viễn rời xa. Cô bé đã tiếp sức cho 2 anh đến giọt máu cuối cùng.
Những chiếc bánh bột trắng tinh khiết (Sau này chính là bánh dẻo) đã thấm đầy nước mắt của thỏ bố, thỏ mẹ và 2 thỏ anh, trở thành một màu nâu vàng sẫm, giống như những ngọn lửa đang cháy (Đó chính là món bánh nướng ngày nay). Dường như tình yếu thương dâng trào quá lớn, không ai còn cảm thấy đói và rét nữa. Câu chuyện này đã làm cảm động đến Ngọc Hoàng thượng đế, nên Người đã ban cho Thỏ Ngọc sống lại, cả gia đình ôm lấy nhau mừng rỡ. Thỏ Ngọc đã xin với Ngọc Hoàng ban cho dân làng không còn bị đói rét nữa. Cũng vì vậy mà ngày tết Trung Thu bây giờ không còn có gió rét như xưa.
Để ghi nhớ tấm lòng hiếu thảo của bé Thỏ Ngọc, từ đó người ta đã lấy ngày rằm tháng tám là ngày tết Trung Thu dành cho các bạn nhỏ chăm ngoan. Một mâm cỗ Trung Thu, dù to hay nhỏ thì đĩa bánh dẻo và bánh nướng vẫn luôn là những món được trưng bày thật trang trọng.
Từ những điều kể trên cho ta thấy, tết Trung Thu của Người Việt đã có từ xưa. Có chăng là sau này tiếp xúc với nền văn hóa Trung Hoa cả một thời gian dài, sự giao thoa văn hóa đã du nhập thêm một số tập tục và thành tố văn hóa của người Trung Hoa, âu cũng là để làm phong phú thêm cho văn hóa tết Trung Thu của người Việt Nam ./.


                                                                                        Mạnh Nguyên

                                                                           

10 tháng 8 2013

VỤ KHỦNG BỐ Ở SOI CỜ NĂM ẤY

(Bài viết nhân kỷ niệm 65 năm thành lập đảng bộ Bảo Thắng 15/10/1948 – 15 10/2013)

Nói về phong trào Cách Mạng ở khu căn cứ Cách Mạng Soi Cờ, đặc biệt là sau vụ khủng bố, giết người, đốt làng của quân đội Pháp. Cụ Ngô Hữu Khôi - một chiến sỹ của đại đội “Thắng Bình”, thuộc Trung đoàn 165, F312 làm nhiệm vụ giải phóng Lào Cai  kể lại:

Soi Cờ trước đây thuộc xã Thái Bo (nay  là xã Gia Phú, huyện Bảo Thắng). Đây là một bãi soi nằm giữa sông Hồng và cửa ngòi Bo, đối diện với Làng Đo của Thái Niên. Ngày ấy ở bãi Soi này chủ yếu là người dân Liễu Châu, phủ Quảng Oai (Sơn Tây) lên khai hoang lập ấp. Vụ khủng bố đẫm máu của địch vào thôn So Cờ ngay trước thời điểm thành lập tổ chức Đảng đầu tiên trên địa bàn Huyện (1948), là một trong những hành động uy hiếp tinh thần quần chúng, nhằm chặn lại sự phát triển mạnh mẽ của phong trào Cách mạng ở Bảo Thắng. Nhưng kẻ địch không thể hiểu được rằng, hành động ấy đã không làm cho lòng dân nao núng. Ngược lại nó còn làm tăng thêm nỗi căm hận giặc, thổi bùng lên ngọn lửa đấu tranh trong quần chúng nhân dân. 

Nhà tưởng niệm Khu di tích Soi Cờ
          Trước đó, tên quan một Bruché (B-Ruy-chê) - trưởng đồn Bến Đền đã có một báo cáo khẩn lên cấp trên của Y, Y nhấn mạnh: “Một báo hiệu nguy hiểm đã tới, Việt Minh đã thâm nhập vào dân chúng có hiện tượng chống bắt phu, thu thuế, các chức dịch làm việc gặp nhiều khó khăn” ([1]).

Trở lại với vụ khủng bố này, cần phải nhắc đến một người tên là Ngô Hữu Ngôn, ông Ngôn là người gốc Liễu Châu. Thời kỳ Quốc Dân Đảng chiếm đóng, ông Ngôn đã từng làm việc cho chúng. Cùng hoạt động và nắm giữ các chức vụ chủ chốt trong chi bộ Quốc Dân Đảng còn có Bếp Hoàn (chi bộ trưởng), Bếp Hậu (đại vụ trưởng). Ông Ngôn được giao phụ trách quân vụ trưởng - người nắm giữ lực lượng vũ trang địa phương. Nhưng sau này do nhận rõ bộ mặt thật của Quốc Dân Đảng là phản động; được sự bảo trợ của quân Tàu - Tưởng, “Việt Nam Quốc Dân Đảng lập ra chính quyền phản động như: Tỉnh chính phủ, quốc dân quân, hiến binh...Thực chất là bộ máy để áp bức, bóc lột nhân dân, cướp bóc, tống tiền các nhà có máu mặt, phát hành tiền giả, bắt bớ tra tấn dã man những người yêu nước. Nhiều người bị chúng đánh đập rồi thủ tiêu bằng cách cho vào bao tải buộc kèm đá hộc đưa ra cầu Cốc Lếu quẳng xuống sông Hồng” ([2]).

Chứng kiến những hành động tàn bạo, dã man đó của Quốc Dân Đảng, ông Ngô Hữu Ngôn đã nhiều lần công khai phản đối sự o ép, bóc lột nhân dân của tổ chức này. Vì vậy đã dẫn tới mâu thuẫn giữa Ông với Bếp Hoàn và Bếp Hậu. Cuối cùng ông Ngôn quyết định từ bỏ, không hoạt động cho Quốc Dân Đảng nữa.

Năm 1948, Chủ trương của tỉnh Ủy Lào Cai là phát triển Việt Minh lên địa bàn Bảo Thắng, đồng chí Lê Đức Bình, ủy viên thường vụ tỉnh Ủy Lào Cai cử đồng chí Nguyễn Đức Thắng ([3]) dẫn tổ công tác vào hậu địch để thăm dò và xây dựng cơ sở. Trên đường đi, Tổ công tác có qua đại đội Thắng Bình, Nguyễn Đức Thắng đã gặp tôi - khi ấy là chiến sĩ của Đại đội. Khôi đã giới thiệu với đồng chí Thắng là, đến Soi cờ thì tìm gặp chú ruột mình là Ngô Hữu Ngôn để bắt mối. Tổ công tác đi trót lọt đến Soi Cờ, gặp được Ngô Hữu Ngôn. Sau khi được tuyên truyền, giác ngộ cách mạng, ông Ngôn đã nhận nhiệm vụ và trở thành giao thông viên đầu tiên của Ta giữa vùng địch hậu và vùng tự do. Ngay lần đầu tiên ông Ngôn đã vượt rừng trót lọt ra vùng tự do, mang thư của Tổ công tác báo cáo với Tỉnh ủy (lúc ấy đóng ở Lục Yên-Yên Bái) với nội dung, Tổ công tác đã bám được Soi Cờ và được quần chúng nhân dân rất hưởng ứng. Hoạt động của Tổ công tác đang có chiều hướng thuận lợi thì địch đánh hơi được, chúng quyết định mở trận càn vào Soi Cờ, hòng dập tắt phong trào Cách Mạng, đồng thời tiêu diệt lực lượng bí mật của ta đang hoạt động trong thôn. Lực lượng của ta lúc ấy mới chỉ là một tổ công tác “không vũ trang”, đóng ở trên rừng, được nhân dân các thôn Soi Cờ, Soi Giá và Cánh Địa bí mật nuôi dấu.

Sau này có người kể lại, trước hôm địch càn vào làng, ông Ngôn và một số người trong thôn đã nhận được thông tin tiết lộ từ lực lượng ngụy quân, nhưng vì sáng hôn ấy trời mưa rất to nên mọi người chủ quan, cho rằng địch sẽ không đi càn như dự định. Tuy nhiên đúng như tin báo, khoảng 8-9 sáng thì địch ập đến bao vây, vào làng bắt bớ; chúng bắt tất cả những ai là đàn ông. Theo ông Nguyễn Tài Nhuận, một người chạy thoát được trong cuộc vây bắt hôm đó kể lại rằng, khi bắt được ông Ngôn, bọn địch đã dùng súng đánh đập Ông rất dã man, rồi sau đó mới dẫn Ông cùng 13 người đàn ông khác ra bãi bắn- trong số này, ngoài những người dân gốc Liễu Châu (Sơn Tây), còn có thêm 4 người quê Nam Định.

Bọn địch trói tất cả những người bị bắt ở rặng xoan cuối bãi, gần cây đa Soi Cờ, bắn chết, liền sau đó chúng quay lại đốt cháy hết cả thôn. Đây thực sự là một tổn thất đau lòng, vì phần lớn đàn ông, trai tráng đều bị giết hại trong vụ khủng bố này. Song, tất cả họ đều không hé răng khai báo vị trí hoạt động của tổ công tác. Vì vậy, toàn bộ lực lượng nòng cốt của ta vẫn giữ được bí mật và bảo đảm an toàn.
Thắp hương tại bia tưởng niệm
Nhân dịp đầu Xuân mới 1999, ông Nguyễn Đức Thắng có viết thư cho tôi, trong thư Nguyễn Đức Thắng còn xúc động nhắc lại tình cảm của bà con khu căn cứ Soi Cờ, Soi Giá và Cánh Địa như một sự tri ân. Ông nói: Tôi rất biết ơn bà con nhân dân các dân tộc huyện Nhà, đặc biệt là bà con Soi Cờ, Soi Giá, Cánh Địa đã tạo điều kiện cho chúng tôi làm tròn nhiệm vụ Đảng giao. Giúp chúng tôi có nơi ăn chốn ở; giúp làm giao liên, chở đò, mang công văn giấy tờ ra vùng tự do; giúp chúng tôi phát triển phong trào, gây cơ sở, tạo lòng tin cho đồng bào tham gia kháng chiến.

Sau vụ địch khủng bố, hầu hết anh em nam giới bị địch giết hại hoặc vào bộ đội. Chị em phụ nữ ở căn cứ địa “vùng đất thánh” này đã không hề nao núng. Họ tiếp tục thay chồng con, tăng gia sản xuất và không quên nhiệm vụ tuần tra, canh gác, làm giao liên phục vụ hoạt động của bộ đội.

Cũng theo đồng chí Nguyễn Đức Thắng thì chị em phụ nữ của Khu căn cứ Cách Mạng này đã là những người khởi xướng ra phòng trào “Ba sẵn sàng” ở Xuân Giao. Có lẽ đây mới là nơi nhem nhóm phong trào “Ba sẵn sàng” đầu tiên của cả nước, chứ không phải chờ đến cuộc kháng chiến chống Mỹ sau này. Chỉ tiếc là khi ấy chưa có điều kiện để tổng kết và phát triển.

Việc làm và khí phách của quần chúng nhân dân trong Khu căn cứ Cách mạng Soi Cờ - Soi Giá - Cánh Địa đã giúp chúng tôi có được một bài học vô cùng quý báu cho những năm hoạt động Cách mạng sau này. Đó là lòng tin của quần chúng nhân dân. Khi quần chúng đã được giác ngộ, được hoạt động có tổ chức thì bất kỳ họ là ai, đàn ông hay đàn bà, người già hay thiếu niên đều có thể rở thành nguồn sức mạnh vô địch.
                                                                
                                                                            Mạnh Nguyên
                                                        Ghi theo lời kể của cụ Ngô Hữu Khôi




[1] Theo hồi ký của Đ/c Trần Long-nguyên bí thư Huyện ủy BảoThắng
[2]  Hồi ký của Đ/c Chí Nguyễn Đức Thắng, người phụ trách tổ công tác của Tỉnh ủy vào khu Địch hậu nắm địch.
[3] Đ/c Nguyễn Đức Thắng sau này kế nhiệm đ/c Trần Long làm bí thư huyện ủy Bảo Thắng.

27 tháng 7 2013

U "N" VẪN NGỜI NGỜI SỨC XUÂN


Thời gian nào có đợi ai
Cuộc đời bước ngắn, bước dài tới nơi...
Sáu mười đang tuổi ăn chơi
Sáng, trưa, chiều, tối hết ngồi lại đi.
Sáu mươi là tuổi dậy thì
Bác sỹ tư vấn-thuốc gì cũng nghe;
Sáu mươi thích gặp bạn bè
Liền anh, liền chị dưa lê buôn hoài;
Sáu mươi là tuổi thành tài
Được con bổ nhiệm trông vài "nhân viên";
Sáu mươi là tuổi thần tiên
Tự mình lo liệu chẳng phiền cháu con;
Sáu mươi là tuổi trăng tròn
Khớp xương thoái hóa, mạch còn vữa xơ;
Sáu mươi là tuổi mộng mơ
Đêm đêm thao thức nằm chờ bình minh.
                       *
Bảy mươi tuổi, vẫn si tình
Mắt nhìn đăn đuối một hình thành hai;
Bảy mươi như giọt sương mai
Rất chăm luyện tập kéo dài tuổi xuân;
Bảy mươi chưa phải dừng chân
Vẫn ham tranh luận chuyện gần chuyện xa;
Bảy mươi tuổi, vẫn chưa già
Nếp nhăn trên trán ấy là sợi yêu,
Tơ hồng khóe mắt hơi nhiều
Thời gian chứng tỏ tình yêu mặn mà.
Mai đây về với ông bà,
Ngồi trên nóc tủ ngắm gà "khỏa thân".
Chẳng ai sống mãi cõi trần!
Góp vui một chút mừng xuân gọi là.
Tuy rằng lời lẽ nôm na
Tiếng cười giúp bạn thành hoa hậu rồi.
Gặp nhau thì hãy cứ vui,
U "En - nờ" vẫn ngời ngời sức Xuân!

             BS Trịnh Thị Nhàn 
 Sưu tầm tặng các bạn đồng môn

11 tháng 7 2013

SỰ THẬT VỀ ẢNH MA Ở CẦU MÓNG SẾN

Bức ảnh kỳ lạ: Hai cháu bé chụp ở cầu Móng Sến Sa Pa có hình cô gái “ma” đã được đăng ở bài trước - liệu đây có phải là ma thật hay không, ban đầu cũng khó lý giải.
Hình chưa xử lý
Nhưng khi nhận được ảnh  chúng tôi đã đưa vào phần mềm chỉnh ảnh của máy vi tính, cho tăng nét và giảm sáng đến một mức độ nhất định thì thấy hiện lên lờ mờ khuôn bức ảnh của cô giái. Nghĩa là cô gái “ma” không đứng ngoài không gian bình thường mà ở trong một tấm ảnh.
Hình đã được xử lý, nhìn khá rõ viền khung của bức ảnh cô gái
          Hiện tượng này có thể giải thích như sau: Ở đâu đó có bức ảnh thật của một cô gái bị đánh rơi, vị trí thường ở phía trước mặt 2 cháu bé (phí sau lưng người chụp ảnh). Vì thời điểm chụp ảnh là vào buổi trưa của một ngày có nắng cho nên bức ảnh này đã được khúc xạ qua không khí ẩm của thời tiết Sa Pa, hình khúc xạ được phản chiếu một cách ngẫu nhiên vào giữa 2 cậu bé, tựa như một bức hình chụp chung vậy.
          Tiếc rằng ngay sau ngày chụp ảnh, ở Lào Cai và Sa Pa có xuất hiện mưa to, do ảnh hưởng của cơn báo số 5 (2012). Vì vậy khó có thể đến vị trí chụp ảnh để tìm lại xem có bức ảnh cô gái rơi ở gần đó hay không.
          Thực tế thì hiện tượng này cũng đã được nói đến ở nhiều nơi trên thế giới và đã được đăng trên nhiều trang mạng. Quan điểm của người viết bài này cho rằng, mọi hiện tượng lạ đều có thể giải thích, nếu chúng ta có sự tìm tòi, xem xét trên cơ sở khoa học.

                                                                                                        M.N


10 tháng 7 2013

CÓ PHẢI LÀ MA?

           Nhân ngày nghỉ cuối tuần, một người ở Bát Xát, tỉnh Lào Cai (Xin được dấu tên vì chưa được sự đồng ý của chủ bức ảnh) đưa gia đinh đi chơi lên phía huyện Sa Pa. Đến khu vực cầu Móng Sến thì dừng chân và chụp ảnh cho 2 người con bằng máy điện thoại.
Một hiện tượng hy hữu xảy ra là, sau khi chụp và xem lại trên điện thoại thì phát hiện có hình mờ ở giữa 2 đứa trẻ. Nhưng khi đưa ảnh vào máy vi tính, phóng to mới phát hiện đó là hình một cô gái.
          Thấy kỳ lạ, chủ bức ảnh đã chuyển bức ảnh này cho mấy người bạn xem và không thể lý giải được tại sao. Vì vậy có người đã giải thích, phải chăng đây là ảnh của một “con ma” đã đứng vào giữa để cùng chụp ảnh với 2 cháu bé ?.
          Được biết, về phía gia đình cũng rất hoang mang sợ hãi bởi hiện tượng này.
          Quan sát kỹ bức ảnh thì thấy, hình cô gái không hẳn ở phía sau 2 đưa trẻ mà có phần như trùm ra phía trước. Tóc cô gái phủ ra trước mặt cậu bé (bến trái) và phần tay áo cô gái thì phủ sang cậu bé (bên phải).  
          Điều đáng quan tâm là, ở quanh đó có một số cây hương, thờ vong những người xấu số vì tai nạn ở khu vực này. Người qua đường thường thấy có không ít người đến thắp hương, đốt vàng mã ở đây.
          Phải chăng, vong hồn của một cô gái xấu số nào đó đã đứng vào giữa 2 cháu bé đẻ cùng được chụp ảnh. Nếu có như vậy chắc cũng không đáng ngại, vì xưa nay chưa có mấy ai bị ma làm hại, nếu không có hành vi trêu chọc các hồn ma.

          Chúng tôi xin được làm rõ thêm hiện tượng này này ở bài viết sau.

                                                                                                                                     M.N 

09 tháng 7 2013

TÂM SỰ THỊ MÀU

(Tặng Mạnh Nguyên)

Khát vọng mãi chẳng được yêu
Tuổi xuân chới với nên liều vậy thôi
Trót ăn trộm táo đình rồi
Cả làng ăn vạ mặc đời trái ngang
Thôi đành chấp nhận dở dang
Mấy trăm năm chịu tiếng oan Thị Màu
Phép trên thầy Lý để đâu
Mà con Mẹ Đốp váy nâu gói vào
Lệnh Làng phán, mõ Làng rao
Sân đình Thị Kính quyét bao rã rời
Ừ thì chửa đấy Làng ơi
Mới ra nông nỗi nhờn môi sân đình
Phận em em chịu riêng mình
Lệ làng cũng chửa phân minh bao giờ
Vẫn còn ối kẻ lẳng lơ
Hơn em mà tận đến giờ vẫn không...
Phận buồn cho gái không chồng
Ai người chia sẻ, cảm thông đàn bà
Xuân về gõ cửa từng nhà
Van Làng lượng thứ mà tha cho Màu.

                                            Huy Thức
                                             Tháng 7/2007

17 tháng 5 2013

TRIẾT LÝ TUỔI GIÀ

                                              (Phỏng theo nội dung bài “Hiểu Đời” của Chu Dung Cơ)


Đời người ngắn ngủi làm sao?
Sống vui, sống khỏe, thanh cao cho đời.
Mỗi ngày sống, một ngày vui,
(Trẻ vui bạn trẻ, già thương bạn già)
Tạo nên hạnh phúc đẹp tươi cho mình.
Niềm vui ẩn chưa vô tình,
Trong công việc nhỏ góp thành niềm tin.

Tuổi cao nuôi chí cho bền,
Tâm hồn trong sáng, chớ nên vì tiền,
Cần tiền là lẽ đương nhiên,
Cũng không quá trọng đồng tiền sinh sôi.
Khi ta sinh ở trên đời,
Chẳng ai mang đến cho  người (Kim-ngân).
Tiền tài là vật ngoài thân,
Chết đi cũng chẳng ai cần mang theo.
Rộng lòng mở chút hầu bao,
Giúp người cần giúp-vui nào vui hơn.
Hãy mua một chút an nhàn,
Kiếm tiền cũng phải biết làm chi đây.
Cầm tiền chớ để bẩn tay;
Chớ làm tôi tớ, đọa đầy bản thân.
Nhân sinh lắm nỗi phong trần,
Quãng đời còn lại cũng cần đổi thay:
Bỏ đi quan niệm xưa nay,
Hãy làm chim én tung bay giữa trời.
Cần ăn, cần mặc, cần chơi,
Chất lượng cuộc sống mỗi người nâng cao,
Giữ cho sức lực dồi dào,

Trần đầy ý nghĩa tuổi cao chí bền.

Của con nhà cửa, bạc tiền,
Địa vị quá khứ, vẻ vang qua rồi.
Sức khỏe đích thực của Người.
Lo cho con trẻ-một đời mẹ cha.
Ốm đau chớ nghĩ cậy nhờ,
Cũng là quy luật liệu lo luân hồi.
Niềm vui con được nên người,
Chớ mong báo đáp để rồi khổ đau,
Dù con có hiếu đến đâu,
Ốm đau cũng chỉ vài câu đủ rồi.
Phải chăng mong đợi bạn đời,
Người ta cũng yếu, đứng ngồi chửa xong.
Còn ai giúp đỡ mình không,
Chắc còn một cách cậy trông đồng tiền.
Mất được là lẽ đương nhiên,
Để lòng rộng mở chớ quên ân tình.
Cũng nên biết đủ với mình,
Đam mê vui sống bình sinh chan hòa.
Thiện căn bản tính ông cha,
Ghế cao cũng chẳng hơn là tuổi cao.
Niềm vui hai chữ thanh tao,
Tận tâm công việc bóng đào thảnh thơi.
Trải qua quá nửa đời người,
Giành cho sự nghiệp, cho đời, cho con.
Quan trường sóng gió càn khôn,
 Tuổi già giữ lấy tâm hồn sáng trong.
Tư duy hạnh phúc cầu mong,
Chăm lo cuộc sống vui cùng cháu con.
Tuổi giá giải trí nhiều hơn,
Để tâm trong sáng nỗi buồn xua tan.
Giữ cho hưng phấn tuần hoàn,
Khoan dung độ lượng chăm làm điều hay.
Con người xã hội hôm nay,
Chớ nên bịt mắt bưng tai một mình.
Chăm lo cuộc sống an lành,
Tuổi già nên chút đa tầng, đa nguyên.
Thêm nhiều bạn để giao duyên,
Cho nhiều màu săc, tăng thêm tuổi đời.
Biết làm cuộc sống thêm tươi,
Tuổi cao mà vẫn rạng ngời sắc xuân,
Nỗi đau hóa giải xua tan,
Thời gian là vị thuốc tiên cho mình.
Mỗi khi đau yếu sự tình,
Lạc quan giữ trọn tâm linh tinh thần.
Người già nghĩ chuyện xa gần,
Cuối đường sự nghiệp, cuối sân cuộc đời.
Vinh quang cũng đã xa vời,
Khói bay tan hết một thời vinh hoa,
Tìm về hoài niệm xưa xa,
Những câu chuyện cũ ấy là đồng thân.
Nhớ thời ở tuổi thanh xuân,
Nhớ về hồi ức như gần hôm qua,
Niềm vui với những bạn già,
Viết lên cảm xúc vần thơ tâm hồn.
Mặc cho sóng gió càn khôn,
Mặc cho vận cuộc chớ buồn làm chi.
Quả xanh chẳng ngọt bao giờ,
Chữ sinh, chữ lão đến bờ vinh quang,
Chữ mệnh, chữ tử hợp tan,
Lẽ đời quy luật vô thường mà thôi.
Nếu không chống được mệnh trời,
Ra đi thanh thản về nơi cội nguồn.
Đặt cho cái dấu thật tròn,
Cuộc đời chấm hết tâm hồn thành thơi.

              Tiến Dũng
             (Viết dựa theo nội dung bài “Hiểu Đời” của Chu Dung Cơ)

26 tháng 4 2013

VĨNH BIỆT CỤ NGUYỄN VĂN ĐIỆN

           (Chú tôi, cụ Nguyễn Văn Điện (Tức Nguyễn Ngọc Liêu) đã từ trần ở tuổi 81 (21/4/2013). Bài viết này đã được chuyển thể qua kịch bản truyền hình, tôi coi đây như một nén nhang vĩnh biệt Chú) 

          Cụ Nguyễn Văn Điện (tức Nguyễn Ngọc Liêu) sinh năm 1933- sinh, trú quán tại thôn Cổ Đẳng, xã Tân Liên, huyện Vĩnh Bảo, Thành phố Hải Phòng. Thuở thiếu thời của cụ là những năm quê hương còn chìm trong nỗi lầm than, cực khổ dưới ách thống trị của Phong kiến - Thực dân. Mới hơn mười tuổi cụ đã phải chứng kiến nạn đói khủng khiếp vào tháng 3 năm Ất Dậu (1945). Rồi tiếp đó là nạn dịch tả, dịch thương hàn kinh hoàng, cướp đi mạng sống của biết bao người dân trong thôn xóm, trong đó có cả những người thân yêu của chính gia đình Cụ. Lớn lên Cụ lại phải chứng kiến quê hương chìm đắm trong lửa đạn chiến tranh-Tất cả đều xuất phát từ hệ quả của “Đêm trường nô lệ”. Vì lẽ đó, Cụ đã sớm giác ngộ Cách mạng, tham gia vào cuộc kháng chiến “chín năm” chống Thực dân Pháp xâm lược.
          Đó là năm 1951, trước tình cảnh quê hương chìm trong máu lửa chiến tranh, cụ Điện đã xung phong nhập ngũ để có cơ hội giết giặc, góp phần giải phóng quê hương. Cùng đồng đội, cụ đã tham gia nhiều trận chống càn của giặc ở các địa phương thuộc Hải phòng, Kiến An. Trong một trận chống giặc càn - tháng 8 năm 1953 tại huyện Tiên Lãng, trước thế địch mạnh hơn ta nhiều lần cả về quân số và trang bị vũ khí. Cụ đã cùng đồng đội ngoan cường chiến đấu, đẩy lùi nhiều đợt tấn công của địch. Nhưng cũng trong trận chống càn này, Cụ đã bị thương, buộc phải rời quân ngũ và sau này được xếp hạng thương tật 4/4.
         Về với đời thường, Cụ Điện luôn cố gắng vượt qua những hạn chế về sức khỏe và  thương tật, hăng say trên các lĩnh vực công tác được giao; đặc biệt là xây dựng phong trào văn hóa - văn nghệ của địa phương; đóng góp công sức vào hoạt động trao truyền và phát huy vốn dân ca Chèo-một loại hình nghệ thuật dân gian của quê lúa đồng bằng Bắc bộ. Với thành tích trong cuộc trường kỳ kháng chiến vĩ đại của Dân tộc, Cụ đã được Nhà nước tặng thưởng Huân-Huy chương kháng chiến chống Pháp hạng 3; đồng thời, để ghi nhận sự cống hiến trong công tác xã hội, cụ tiếp tục nhận được nhiều huy chương, kỷ niệm chương của các đoàn thể chính trị xã hội.
          Sau này, mặc dù sức khỏe ngày càng giảm sút bởi tuổi tác và vì sự tái phát vết thương, cộng với những khó khăn về vật chất trong cuộc sống đời thường. Nhưng cụ vẫn luôn tỏ ra lạc quan để “sống vui, sống khỏe”. Cùng với những thú vui tao nhã, Cụ đã góp phần làm đẹp thêm nét đặc trưng về văn hóa truyền thống của quê nhà. Với gia đình, Cụ là người chồng, người cha, người ông đáng kính; với dòng họ cụ là một vị cao niên có nhiều đóng góp trong gìn giữ nếp nhà và tham gia cung cấp các tư liệu lịch sử, nhằm duy trì trật tự, tôn ty của dòng tộc. Dù đã ở tuổi “bát tuần”, nhưng Cụ vẫn luôn trăn trở, lo toan xây dựng gia đình và gìn giữ nền nếp của dòng họ; giáo dục con, cháu và góp phần vào sự nghiệp xây dựng làng - xã văn hóa. Cụ luôn dạy bảo cho con, cháu giữ gìn đạo đức gia phong, mỹ tục, tránh xa những cám dỗ đời thường. Vì vậy, các con, cháu, chắt  của cụ đều là những công dân tốt, tựa như:
“Măng non ấm bụi tre già,
Đời con nối chí đời cha anh hùng”.

           Nay do tuổi cao, sức yếu, mặc dù đã được các thầy thuốc tận tình cứu chữa, được các con, các cháu hết lòng phụng sự, nhưng cụ đã vĩnh biệt gia đình, con, cháu, chắt; vĩnh biệt bà con lối xóm và đồng chí, đồng đội để về cõi vĩnh hằng vào hồi 3 giờ 20 phút, ngày 20/4/2013 (tức là ngày 11/3 năm Quý Tỵ) - hưởng thọ 82 tuổi. Cụ Điện đã đi xa, nhưng cuộc đời Cách mạng và  ý chí của người chiến sỹ quân đội nhân dân - hội viên Cựu chiến binh Việt Nam vẫn luôn là niềm tự hào cho đồng chí, đồng đội và là tấm gương để con cháu noi theo. 
          Hôm nay, trong cái quan tài đỏ chói, sơn son, thiếp vàng này. Không còn buồn, vui, căm giận, không còn ưu tư, vướng bận nỗi trần ai... Có lẽ cả cuộc đời Cụ, cho đến bây giờ mới thực sự thanh thản, mới thực sự "sung sướng" nhất. Bởi lúc này mới hội được tương đối đầy đủ các con, các cháu, chắt, những người thân yêu nhất đến với Cụ, phủ phục trước linh cữu để bày tỏ sự tiếc thương, xót xa cho cuộc đời vất vả của một người cha. Và cũng đến lúc này Cụ mới có được đầy đủ những người bà con từ khắp nơi trong thôn, trong xã, trong huyện...về quây quần xung quanh, cầu mong cho hương hồn Cụ được an lành nơi cực lạc.. Niềm vinh dự nhất của Cụ là được phủ trên quan tài lá cờ đỏ sao vàng của Tổ Quốc do những người đồng Hội Cựu chiến binh thực hiện... 
           Trần Tuấn Tiến-một người bạn của các cháu Cụ bày tỏ nỗi lòng với bài thơ lục bát, có đoạn viết rằng:
“Ông "đi", tiếng nhị "đi theo"
Cả đời cái khó, cái nghèo dắt lưng...
...Cả đời cơ chỉ làm ăn
Tiếng tơ, tiếng trúc quẩn quanh bên mình.
Cả đời mang nặng nghĩa tình
Cả đời vun vén gia đình, vợ con.
Làm tròn nhiệm vụ nước non
Mà ông Giời vẫn như còn giận chi?
Non Tây, ông đã ra đi
Thác về”, “sống gửi” có gì tiếc đâu?
Mai sau...mãi mãi mai sau
Vẳng nghe tiếng nhị hát câu não lòng!”

          Để tỏ bày tình cảm của những người đồng chí, đồng đội; của người thân trong gia đình và xóm làng, thân hữu, lời điếu của Ban Tang lễ và lời vĩnh biệt của Hội Cựu chiến binh xã Tân Liên đã trân trọng ghi nhận công lao đóng góp của Cụ với Tổ quốc, với quê hương  và trách nhiệm với gia đình.
         Đại diện gia đình cũng xúc động nói lên sự biết ơn với cấp ủy, chính quyền, các đoàn thể địa phương; bạn bè thân hữu và bà con lối xóm đã trọn nghĩa, vẹn tình, sẻ chia niềm tiếc thương trước nỗi đau mất mát của gia đình, cùng tề tựu đông đủ để tiễn đưa cụ về nơi an nghỉ cuối cùng. 
           Thiết nghĩ, quy luật sinh - tử ở đời là do quyền tạo hóa. Song, Cụ Nguyễn Văn Điện đã ra đi vào cõi vĩnh hằng, vĩnh biệt đồng chí, đồng đội; vĩnh biệt bà con chòm xóm và người thân vẫn là một sự hẫng hụt về tinh thần, để lại cho mọi người nỗi trống vắng và niềm tiếc thương vô hạn.
           Vĩnh biệt Cụ, hội Cựu chiến binh; hội Người cao tuổi và hội Nông dân xã Tân Liên cùng mất đi một người đồng chí luôn tận tâm, giàu nhiệt huyết; gia đình mất đi người chồng, người cha, người ông, người cụ đầy tình thân yêu và kính mến. Để tỏ lòng thương tiếc Cụ, đồng chí, đồng đội và đồng bào địa phương, thân bằng cố hữu xa gần đã cùng các con, cháu, chắt của Cụ quy tụ về đây, thành tâm dâng lên Cụ nỗi tiếc thương với tình cảm chân thành trước phút giây tiễn biệt. Thành kính tiễn đưa Cụ về Nghĩa trang nhân dân thôn Cổ Đẳng, xã Tân Liên để Cụ được cùng Tiên Tổ hưởng trăng thanh, gió mát; lắng tiếng sáo diều của quê hương trong giấc ngủ ngàn thu!. 
                                                                   M.N

TỪ TRẬN VÕ TRANG ĐẦU TIÊN Ở LÀO CAI


          Nhân kỷ niệm 65 năm, ngày truyền thống Lực lượng vũ trang (LLVT) tỉnh Lào Cai (02/4/1948 -02/4/2013) xin được lược ghi, dựa theo hồi ký của đồng chí Trần Long –Tức Long Khánh, nguyên bí thư huyện ủy Bảo Thắng- ủy viên ban thường vụ tỉnh ủy Lào Cai. Phần nói về chiến công đầu tiên của lực lượng vũ trang Tỉnh trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp-cuối năm 1948.

          Nửa năm sau ngày thành lập LLVT tình Lào Cai - vào khoảnh cuối tháng 11 năm 1948, đồng chí Hoàn Quy, bí thư Tỉnh ủy Lào Cai triệu tập cuộc họp tại Làng Chưng, bàn kỹ về chủ trương  kế hoạch võ trang tranh đấu.
          Tình hình lúc ấy rất căng thẳng, ngày nào tên quan một-Bến Đền cũng kéo quân lên Cam Đường lùng bắt thanh niên. Việc tổ chức võ trang tranh đấu ở chi bộ Cam Đường được bàn và triển khai rất khẩn trương. Chủ trương là, khi nổ súng võ trang phải đồng thời thực hiện “vườn không, nhà trống”. Cất dấu lương thực để chuẩn bị cho chiến đấu lâu dài và cũng phải tính đến việc vừa chiến đấu, vừa sản xuất.
          Các thôn họp rất sôi nổi, nhưng gay go nhất vẫn là súng đạn. Bấy giờ mới có 1 trung đội của ta vào đến Soi Cờ để chuẩn bị cho quần chúng nổi dậy. Trong tay chúng tôi cũng chỉ có 1 khẩu Sít-ten và một số súng đạn của đơn vị đồng chí Trần Hợp. Chi bộ đã tổ chức cho việc tự sản xuất vũ khí rất khẩn trương và quán triệt phương châm “Cướp súng giặc để đánh giặc”. Cùng lúc đó chúng tôi đã giác ngộ được 22 anh em binh lính địch, người Cam Đường, hẹn khi có nổ súng vũ trang thì cùng kéo nhau về với phía ta.
Đc Trần Long (Người đứng bên trái)
          Sau một thời gian chuẩn bị, đồng chí Hoàng Quy cùng với chúng tôi đã bàn bạc, quyết định: Mười giờ đêm ngày 12/12/1948 là giờ quy định nổ súng võ trang tranh đấu. Đúng 9 gờ tối hôm đó, tôi lên nói chuyện với anh chị em, bao căm hờn uất ức bấy lâu dồn nén lại đã được kết tinh ở từng lời, từng cử chỉ, để rồi cả cuộc mít tinh cùng thấm nhuần Chỉ thị của đồng chí bí thư tỉnh ủy Hoàng Quy là, “Khi nổ súng võ trang tranh đấu, chỉ có tiến. Tiến là thắng lợi, lùi là tự sát”. Đó cũng là giờ phút thiêng liêng và hệ trọng của nhân dân các dân tộc xã Cam Đường, công khai đấu tranh võ trang với địch ngay trong lòng địch. Ba tổ diệt Tề, trừ gian xuất phát. Tôi cùng anh em tiến vào nhà Tổng Bao. Thấy anh Việt Sơn vào, Tổng Bao còn nhỏm dậy hỏi: “Cháu đi đâu đấy?”. Chúng tôi đã nhanh chóng ập vào bắt trói hắn lại, tôi thay mặt Việt Minh tuyên bố: “Tổng Bao cam tâm làm tay sai cho giặc, đã giúp giặc Pháp bắt bớ, chém giết, bóc lột đồng bào, nay xứng đáng phải được trừng trị”. Tổng Bao cúi đầu nhận tội và lắp bắp xin được tha chết. Cùng lúc ấy tôi gặp và được anh Tô Vũ báo cáo, đã diệt được tên Bình Thi và tên Sen chỉ điểm của địch. Lúc này tiếng súng ở đồn Bến Đền cũng đang nổ giòn dã. Nhân dân ở 2 xã Cam Đường và Gia Phú cùng hò reo “Ta tấn công đồn Bến Đền rồi...!”. Tuy nhiên do ta chưa có kinh nghiệm công đồn, nên trận đánh đồn Bến Đền đêm ấy chưa thành công mỹ mãn, chỉ mới giết được 5 tên địch và bắn bị thương 4 tên, chưa hạ được đồn. Nhưng cũng đã làm cho bọn địch một phen khiếp vía.
          Sáng 13/12, đồng chí Tô Vũ vào làng, tổ chức cho nhân dân sơ tán lên núi. Tôi viết báo cáo gửi đồng chí Hoàng Quy rồi lên Tùng Tung, tìm đơn vị đồng chí Trần Hợp để phối hợp bố trí lực lượng chặn địch từ thị xã tiến vào khu võ trang. Khi quay về, chúng tôi gặp toán lính của tên quan một Bến Đền vừa đi vừa bắn súng thị uy bừa bãi ở Xuân Cánh. Thực ra là chúng bắn súng để tự trấn an, vì chưa kịp hoàn hồn sau trận bị tập kích đêm trước. Tôi hội ý nhanh với Trần Hợp, nhận định là chúng đang tìm cách chạy lên thị xã, rồi chúng tôi đã nhanh chóng bố trí phục kích. Số lượng của quân ta lúc ấy chỉ vỏn vẹn có 9 người, đây lại là trận phục kích đầu tiên của Khu võ trang tranh đấu.
          Địch tới, đi đầu là một tên khố đỏ cặp nách 2 khầu “góp tám”. Chúng đã phát hiện được tôi, nhưng chưa có lệnh nổ súng nên tôi chỉ dùng dũng khí trừng trừng nhìn lại. Hai người lính cảm nhận được có điều nguy hiểm nên họ rảo bước đi nhanh mà không có ý bắn lại chúng tôi. Tên B-Ru-Chê đi sau một quãng, thấy tôi, y giơ tiểu liên lên bắn hết nửa băng. Tôi ngả người ra phía sau và rút lựu đạn ném xuống đường. Trần Hợp nhảy ngay xuống đường cướp khẩu Sít-ten của địch, bắn liền một băng làm bọn địch chạy tung tóe. Kết quả trận đánh ấy ta đã diệt một sỹ quan Pháp, thu một khẩu Sít-ten, một cặp tài liệu và giải phóng được 2 người bị địch bắt, trong đó có một đồng chí liên lạc mang báo cáo của tôi cho đồng chí Hoàng Quy, vừa bị chúng bắt ở Xuân Cánh.
          Ngày hôm sau, theo nguồn tin của nhân dân thị xã cho biết, mấy tên địch bị phục kích chạy về thị xã, có đứa chỉ còn độc một quần xi-líp trên người. Hẳn là chúng quá khiếp đảm. Sau đó mấy hôm, một người lính khố đỏ trong số 2 người đã nhìn thấy tôi phục kích mà không bắn trở về đầu hàng.
          Thắng lợi nhỏ trên đây như một làn sóng truyền đi khắp các thôn bản. Nhân dân Cam Đường phấn chấn, khắp nơi cùng truyền tin là “Ta vừa phục kích tên một Bến Đền, giết chết một thằng quan người Pháp”. Sau thắng lợi ban đầu ấy, ta cũng nhận thấy rõ sự lúng túng, hoảng hốt của địch khi bị phục kích vũ trang. Đặc biệt là, chúng không thể ngờ rằng chúng ta đã lọt sâu vào trong lòng chúng. Cuộc nổi dậy võ trang ở Cam Đường, Gia Phú đã như một mũi dao, xáy thẳng vào tim gan của địch; Cam Đường đã trở thành khu căn cứ tự do đầu tiên của tỉnh Lào Cai.

                                                                                Mạnh Nguyên