Cả Mõ

camoz77.blogspot.com/

27 tháng 1 2014

CÂU ĐÔI MỪNG XUÂN GIÁP NGỌ-2014

1. Tặng mấy anh vì nghèo mà sợ tết: 
Đêm Ba mươi công nợ rối quanh thân, nông nỗi này mấy ngàn năm hãy Tết!; 
Sớm mùng một rượu uống say bí bét, cứ đã này mỗi tháng một lần Xuân!"
Áo dài

2. Tặng những kẻ sợ già:
Năm cũ qua đi vui vẻ mừng thêm Thọ!; 
Tuổi mới đến rồi buồn tình nỗi tiêu Xuân!

Hoa Xuân

20 tháng 12 2013

CẢM NHẬN KHI ĐỌC BÀI THƠ “TIẾNG TRĂNG” CỦA LXH

              GPDD có gửi cho Mõ bài thơ này, nói là của tác giả LXH và có xin góp ý (sửa). Tiếc rằng Mõ này lại dốt về làm thơ nên không giám sửa. Mạn phép, xin được bình mấy lời như sau:


        “Tiếng trăng” của LXH là một bài thơ trữ tình, nói đúng hơn là một bài thơ tình khá hay và độc đáo. Tác giả đã mượn hình tượng “chị Hằng” làm đối tượng để dãi bày nỗi niềm riêng cho một kẻ đang say tình, mà lại là một mối tình “không xác định”. Phải chăng nhờ có cảm xúc từ một đêm trăng đẹp để tác giả “tâm trạng” mà tức cảnh sinh tình, nẩy ra ý tứ.

“Ta nghe có tiếng trăng rơi
phải chăng trăng cũng như người mộng du”

          Rõ ràng anh chàng trong bài thơ này vì đang say tình mà trở nên ngu ngơ, đờ đẫn. Ai chẳng biết trăng sáng là một hiện tượng tự nhiên, nhưng hiện tượng tự nhiên nào khi được nhuốm tình người với cái chất nhân văn, lãng mạn thì cũng sẽ được tô thêm màu sắc mới, thậm chí còn có khi nghe được cả âm thanh. Nói cách khác thì tự thân của một đêm trăng, dù trăng sáng hay trăng lu cũng chẳng nói lên điều gì - nếu nó không được gắn với tâm trạng, nỗi niềm của thi sĩ. Trong Truyện Kiều, đại thi hào Nguyễn Du cũng đưa tình cảm của nhân vật gắn vào cảnh sắc thiên nhiên như:

“Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu
Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ”.

          Ở “Tiếng Trăng”, LXH đã khéo mượn ánh trăng để bày tỏ tâm tình,  để bộc lộ cái khát vọng “đa đoan”. Song, ở đây dường như thông điệp vẫn còn đang vu vơ giữa thinh không, chưa xác định được địa chỉ của đối tượng. Đúng là vì có sự gợi cảm của ánh trăng nên mới tạo thành chất men tình, làm cho đối tượng của bài thơ nghe được cả “tiếng trăng rơi”. Trước đây trong một hoàn cảnh tương tự, cũng có kẻ đang say tình, trong một đêm trăng chập chờn tỉnh giấc đã bộc lộ nỗi lòng:

“ …Ta nằm nghe gió đêm thâu
Thì thầm bên gối những câu tâm tình
Trong mơ thấy bạn bên mình
Tỉnh mơ chỉ thấy trước mành trăng rơi!…”

Dẫu có khác với  LXH là chỉ nghe thấy tiếng trăng rơi - nghĩa là mới thông qua cảm giác tượng thanh, thì ở trường hợp này còn thấy  được cả “trăng rơi” qua cảm giác tượng hình... Nhưng xét cho cùng thì dù có nhìn thấy “trăng rơi” hay chỉ nghe thấy tiếng “trăng rơi” cũng đều là mơ mộng. Nói dại, nếu trăng mà rơi thật như hiện tượng thiên thạch rơi tự do vào trái đất thì có mà họa lớn!.

Xưa nay mọi cái được chiếu qua lăng kính của các thi nhân, cái gì cũng trở nên huyền ảo, có khi sự vô lý mới làm nên được chất trữ tình. Ví như câu ca dao sau đây:

“Đêm qua tát nước bên đình
Bỏ quên cái áo trên cành hoa sen…”
Có người bảo, biết đâu anh chàng kia bổ củi ở sau đình, rồi bỏ quên cái áo trên cành cây sung - như thế mới là thật. Vì cái áo dù có nhẹ đến cỡ nào cũng khó có thể vắt lên cành hoa sen được. Nhưng với thơ thì nó phải là tát nước, phải là cành hoa sen mới đượm chất lãng mạn, ai lại đưa động tác hùng hục của anh chàng bổ củi với cái cành sung sần sùi thô lỗ vào thơ ?.

Ở bài ca dao “Nụ tầm Xuân” cũng vậy, khi anh chàng si tình đã thốt ra thơ thì cũng phải có cái gì đó ngu ngơ, đờ đẫn. Anh ta trèo lên cây bưởi hái hoa, rồi từ cây bưởi tụt xuống vườn cà lúc nào cũng chẳng hay, lại tưởng chỉ một bước thôi mà đã xuống được vườn cà!. Nên mới nói:

“Trèo lên cây bưởi hái hoa
Bước xuống vườn cà hái nụ tầm xuân…”.

 Sự đãng trí si tình đến như vậy vẫn chưa phải là cùng. Chỉ vì cô người yêu đi lấy chồng mà làm chàng ta rối trí thất tình, chân tay lóng ngóng, làm gì cũng chẳng nhớ, mắt cũng mơ hồ, nên mới “nhìn gà hóa cuốc”:
“…Nụ tầm xuân nở ra xanh biếc;
Em đi lấy chồng anh tiếc lắm thay”.

Thực ra nụ tầm xuân thường chỉ có mầu trắng phớt hồng, chứ làm gì có nụ tầm xuân nào lại có mầu xanh biếc?. Thế mới biết cái men tình gớm thật, khi nó đã ngấm vào rồi, người bị ngấm men ấy lại thất tình nữa thì các giác quan đều trở nên đảo lộn.

Người đời xưa đã vậy thì người nay cũng vậy, trở lại với bài thơ “Tiếng trăng” của LXH ta mới thực sự cảm thông cùng tác giả. Không biết LXH nói về mình hay nói cho ai, nhưng trước một đêm trăng đẹp- ngắm trăng mà thiếu bóng tri nhân tri kỷ, thì “trăng rơi”, “trăng vỡ” cũng là lẽ thường tình.

Nhưng đến mấy khổ thơ sau, nỗi niềm của nhân vật trong Bài thơ không chỉ còn dừng lại ở nỗi buồn man mác của một kẻ si tình, mà hình như còn có chút thất tình. Giọng thơ trở nên có gì đó mỉa mai, hờn oán của một người bị tình phụ bạc. Cho nên Chữ tâm (mới) lỡ để héo khô; Ánh kim tiền dễ che mờ nhân gian”. Nói toạc ra thì cũng chỉ tại chữ “tham” mà nên tất cả. Lòng tham của con người là nguyên nhân cho mọi nguyên nhân sinh ra nỗi khổ ở đời. Tham đem đến bất hạnh cho mình, tham cũng đem đến nỗi buồn đau cho người khác. Chẳng thế mà trong triết lý “Diệt khổ” của Thích-Ca-Mâu-Ni là phải tận diệt “Tham, sân, si”- căn nguyên của “Bể khổ” ở đời. Từ cái triết lý này nên tác giả “Tiếng trăng” cũng đành dùng phép tự vấn an, phó mặc cho số trời. May mắn hơn là đã tìm đến lời Phật dậy, lấy “sắc sắc, không không” để an ủi nỗi lòng.

Người đời bảo, vì chưng dễ tính nên Trăng mới là kẻ vô tình bị lôi vào cuộc, luôn phải chứng kiến vô số những cuộc tình trái ngang, trắc trở. Nhưng xét cho cùng thì Trăng là vô can trước mọi nỗi buồn vui nhân thế. Phải vậy mà LXH đã để một cái kết có hậu cho “Tiếng Trăng” như sự phân bua đầy chính kiến:

Trăng soi bằng ánh ngời ngời
Vỡ ra thành tiếng khóc cười thế nhân...

Ta nghe có tiếng trăng ngân
Ánh vàng vụn giữa trầm luân đời người”.

Tựa như để thanh minh nỗi oan tình mà lâu nay “chị Hằng” phải gánh; âu cũng chỉ vì cái vẻ đẹp hững hờ mà Trăng luôn bị coi là tác nhân tạo nên nguyên cớ của người đời.
                                                                                                          

                                                                         Cả Mõ

                  

TIẾNG TRĂNG

Tác giả: Lê Xuân Hùng

Ta nghe có tiếng Trăng rơi
Phải chăng trăng cũng như người mộng du.
Ta nghe có tiếng Trăng ru
Đời ru nghiệt ngã, thơ ru bẽ bàng.
Tình ru sao lắm phũ phàng
Đò tình một chuyến.....người sang một đời.
   
 
Ta nghe có tiếng Trăng rơi
Ánh vàng vụn vỡ giữa trời trầm luân.
Ai đong đếm cả mùa xuân!
Ta ngu ngơ giữa bàn cân cuộc đời.
Biết là trong đục đầy vơi
Chẳng bão giông cũng lở bồi, hỡi sông!
   
 
Nào là sắc sắc không không
Lục căn chưa tịnh chẳng thông lẽ đời.
Sang hèn định sẵn số trời
Bon chen giành giật....thói đời đa đoan.
Nghe trong từng nỗi lo toan
Máu xương nhức nhối, tim gan rã rời.
   
 
Tiếng Trăng vụn vỡ tơi bời
Cõi hư vô chẳng thấy người hư vô!
Chữ Tâm lỡ để héo khô
Ánh kim tiền dễ che mờ nhân gian.
Rồi sao, bóng xế dương tàn
Ván thiên đậy cả cơ hàn, giàu sang!
   
 
Đất trời một cõi mênh mang
Đời người ai dễ nhênh nhang người đời.
Trăng soi bằng ánh ngời ngời
Vỡ ra thành tiếng khóc cười thế nhân...
   
 
Ta nghe có tiếng trăng ngân
Ánh vàng vụn giữa trầm luân đời người./.


                                                 LXH

                                                                Đảng ủy xã Trì Quang, Bảo Thăng, LC

27 tháng 11 2013

Phú: VĨNH BIỆT NÀNG ĐIẾU



                      Ô hô, ô hô!
                      ...Em Điếu ơi! Kể từ khi đôi ta "hương lửa" nấu nung,  
                     Tơ duyên say đắm, tưởng có lúc lăn đùng vào giữa bếp tro.
                      Quá say em, anh kheo khẳng cái cặp dò…
                      Heo may chớm thổi đã ho từng tràng.
                      Nhớ chăng em, lần đôi ta dấm dúi ở cạnh kho hàng
                      Mải say hương khói mà xuýt nữa để tàn tía, tàn vàng nó bốc lên cao.
                      Lại có hôm tập trận ở bên miệng chiến hào
                      Vì quăng “đầu mẩu” nên thần hỏa nó mới ào ào thiêu rụi cả đồi xanh.
                      Em Điếu ơi! Kể từ khi đôi ta duyên kết yến – oanh
                      Ngày dăm bữa anh phải ngồi “canh” toa lét.
                      Dù chẳng phải Tào hỏi thăm hay bệnh tình gì đặc biệt,
                      Chỉ bởi nội quy không được hút thuốc ở trong phòng.
                      Và mỗi khi đến những nơi hội họp - người đông,
                      Muốn có tí cùng em cũng không thể ngoài nơi ấy.
                      Ngẫm lại cuộc tình đôi ta, ngọt ngào đâu chẳng thấy,
                      Mà chỉ toàn nỗi bật hạnh triền miên.                                
                      Buồn cho cuộc tình nghiêng ngả, đảo điên…
                      Dìm hạnh phúc nơi “không tiền, khoáng hậu”.     
                 
                                                        *
                                                     *    *
Thuốc lào chồng hút, vợ say,
Chó con ngửi khói (cũng) nga quay ra nhà.

                       Cho nên:
                       Kể từ hôm nay anh quyết đưa em ra chôn chặt nơi xó hè,
                       Tám giờ vàn ngọc ta chẳng kè kè hút-hít tào lao.
                       Xin tấu cùng ông Tơ-bà Nguyệt ở tận chốn xanh cao:

                       Mối tình cùng Điếu, thôi, vái chào vĩnh biệt!.
                         
                                                                                             Cả Ngố

                       

16 tháng 11 2013

ĐỆ TỬ NHÀ ĐỀ LUẬN THƠ & "SẤM TRẠNG"


            Câu nói cửa miệng: “Chơi đề ra đê mà ở” nay như đã trở thành châm ngôn, vậy mà đội ngũ người chơi số đề vẫn không hề thuyên giảm. Có điều rất lạ là, ở đời không ai muốn bị gọi là ngu – nếu ai đó vì bực nhau mà trót rủa nhau một tiếng “ngu”, coi chừng, không bị đối phương thụi cho gãy răng thì cũng phải nhận những phản ứng không lấy gì làm tích cực.
            Duy chỉ có những người chơi số đề thì ai cũng không dưới một lần tự rủa mình là ngu!. Vì họ rất tin vào thơ đề, trạng đề. Mà thơ đề thì ai chẳng biết, đấy là một thứ thơ hổ lốn viết tay, chẳng ra khổ khiếu gì cả. Nó đã không có hồn đã đành, thậm chí còn bất chấp cả vần lẫn luật. Có lần đọc thử mấy khổ thơ đề, anh bạn tôi bảo:

            - Tớ là thằng đại dốt về thơ, nhưng phen này quyết về “sáng tác” thơ đề để bán. Vì thơ loại này mình có thể viết ra được cả tập chỉ trong vài giờ.
            Hôm ấy, trên đường đi công tác, ngồi ở quán nước, tôi được mục sở thị về chuyện dịch thơ đề. Một ông khách nọ trông bề ngoài có vẻ “công chức” lắm. Vỗ đùi đánh đét, ông khách ta nói với chủ quán:
            - Mình ngu quá, hôm qua “thơ nó” chỉ ra rồi mà không luận được!
            - “Nó” chỉ thế nào?- chị chủ quán hỏi.
            Ông ta đọc luôn:
            “ Trâu về thành phố trâu cười,
            Để cho ngàn kẻ, vạn người hỏi mua”
            Thế mà nó về đúng “con hai chín” có thánh không?. Vậy mà mình quá ngu, luận mãi không tính đến “nước” này!.
            Đến đây thì tôi phải chen vào một câu hỏi:
            - Hai câu thơ vừa rồi tôi thấy có liên quan gì đến con số 29 đâu?
            - Cậu này đúng là người “ngoại đạo”, chẳng hiểu gì cả - anh ta nói, rồi giải thích: Đây nhé, “hai chín” có phải biển số xe Hà Nội không?. Câu trên có từ “thành phố”, thế chẳng phải ám quẻ con số “hai chín” là gì?.
            Thấy anh ta đang say sưa với cái lí của thơ đề, tôi đành ngồi im, vì sợ tranh luận, không khéo lại bị gọi là “ngu”, hoặc rủi hơn không chừng còn ăn quả “liệu hồn”. Sau này tôi mới biết, hóa ra ông bạn đệ tử đề hôm ấy là một lái xe, mới được nghỉ “hưu non”.
            Còn Trạng đề, phần lớn người phát “trạng” thì không được là người bình thường. Có thể đó là một cậu bé mắc bệnh bại não hoặc một người đồng bóng, dở hơi, chứ tinh khôn thì đừng hòng mà thành được Trạng. Lần ấy ở xã T. tự nhiên đồn rầm lên là mới “nổi” Trạng đề. Người ta kéo đến xin “sấm” trạng đông lắm. Ở mãi trên thành phố tỉnh lỵ và thị trấn huyện, các bà, các cô “mắt xanh, mỏ đỏ” cứ lũ lượt kéo về xin lời “trạng” phán để đánh đề. Có dịp đi qua xã ấy, tôi đã ghé quán nước gần nhà “trạng”, lân la hỏi chuyện, được bà cụ chủ quán xởi lởi kể:
            -  Chú muốn biết à, thật may cho cái nhà L. ấy (L. là mẹ của Trạng), nó nghèo kiêt xác, may nhờ thằng cu dại “nổi trạng” mà lâu nay cũng được hưởng ít lộc.
            Tôi sốt ruột hỏi:
            - Nhưng có đúng thằng bé ấy phát trạng thật không hả cụ?
            Bà lão kín đáo nhổ miếng quyết trầu rồi chậm rãi trả lời:
            - Cũng chẳng biết, nó sinh ra đã ngẩn ngơ, đầu thì to, người thì nhỏ, cái mặt đần thối, đâu có giống người bình thường. Năm nay đã hơn mười tuổi rồi nhưng chẳng nói được câu nào rõ lời. Cái quần, cái áo còn chẳng tự mặc được. Cách đây hơn một năm, tự dưng bảo là nó “phán” thiêng lắm, cứ theo lời nó mà “đánh”, ối người “trúng” to. Thế là người khắp nơi cứ đổ về ùn ùn xin “sấm trạng”. Mỗi người đến xin “sấm” đều tự giác đặt “lễ” tùy tâm, rồi vái trạng để xin lời phán. Còn Trạng thì lèo bèo nói chẳng rõ câu cú gì cả. Có hôm bức xúc vì đông người đến quấy rầy, nó cùn lên chửi tục lung tung. Thì đấy, mọi người cứ bám vào mà “luận”, chứ Trạng đâu có phán rõ điều gì. Mà nói rõ ra rồi thì đâu còn là “sấm” trạng, phải không chú?.
            Hỏi vậy, nhưng chẳng đợi tôi trả lời, bà lão lại kể tiếp:
            - Ví dụ, nó bảo “về mà ăn cứt” thì luận ra: nhóm phân do, cứt đái ứng với số “không sáu” (06) chẳng hạn, thế là “đánh” không sáu. Nhưng cũng có hôm Trạng vừa ngủ dậy, mọi người đã bâu vào xin “sấm”, nó chẳng nói, chẳng rằng, bỏ ra đầu nhà vạch chim ra mà tè. Vậy là họ liền chạy theo, dòm vào đường vẽ loằng ngoằng trên mặt đất từ tia nước tiểu của thằng bé, mỗi người luận một kiểu, ai luận ra cái gì thì “đánh” theo cái đó.
            - Nhưng không không “trúng” thì sao?- tôi hỏi cắt ngang lời kể của bà cụ. Cụ cười, đáp:
            - Làm gì mà ai cũng trúng, trúng thế thì chủ đề có mà “bán xới” à?. Nhưng không sao, đánh không trúng là tại không biết luận”, chứ đâu phải tại Trạng. Thế mới ngu, phải không chú?.

            Đến đây thì tôi hiểu. Chỉ có điều tất cả những người đánh đề vẫn cứ tin vào thơ đề, trạng đề một cách cuồng tín, mà trong số họ không ít người là cán bộ, công chức, viên chức, nhà kinh doanh có trình độ cao ngất ngưởng hẳn hoi. Thế mới lạ!. 
                                                                                   Cả Mõ

13 tháng 11 2013

Vụ án tù oan 10 năm của ông Chấn: Họ "cắp ô" hay cắp "lưỡi hái"?

 TÁC GIẢ: DƯƠNG XUÂN THÀNH
Thứ tư 13/11/2013 07:36
(GDVN) - Hy vọng sau vụ xét xử hủy hai bản án của ông Chấn sẽ còn nhiều phiên tòa nữa liên quan đến những kẻ đang phủi tay chối tội, đang cố đùn đẩy sự vô lương tâm của mình cho người khác. Những con rùa rụt cổ, dù chết hay sống cũng phải được mang ra trước ánh sáng công lý.

Kiểu trưng biển cấm chẳng giống ai của TAND tỉnh Nghệ An

Ngày 6/11/2013, rất nhiều tờ báo đăng trang nhất các bài viết thể hiện nội dung: “Người bị tù oan 10 năm kể về đòn hiểm ép cung”. Trong nội dung bài báo có đoạn: “Theo như lời kể của ông Chấn, trong quá trình lấy lời khai, các điều tra viên này đã cầm dao, búa bắt ông Chấn nhận tội”. Báo Giáo dục Việt Nam ngày 7/11/2013 đăng bài của tác giả Viết Cường: “May mà ông trời có mắt”
Báo Pháp luật và Xã hội, cơ quan của Sở Tư pháp Hà Nội, ngày 28/3/2013 viết: “Điều mà người dân thấy khó hiểu là phía TAND tỉnh Nghệ An đã cho trưng biển hiệu cấm tất cả các đối tượng được tham dự phiên tòa mang điện thoại, máy ảnh, tư trang vào hội trường xét xử, kể cả…những nhà báo” [1].
Ba ví dụ nêu trên mới chỉ là cách nhìn nhận của một vài cá nhân và trang báo điện tử, Chắc chắn không thể thống kê hết những gì mà người dân và truyền thông đề cập tới hoạt động của các cơ quan bảo vệ và thực thi pháp luật.
Khi mà chính rất nhiều người đang làm việc ở trong ngành Tư pháp phải than phiền: “Kiểu trưng biển cấm chẳng giống ai của TAND tỉnh Nghệ An” thì người dân còn gì để nói?
Với 10 năm tù của ông Nguyễn Thanh Chấn, rồi đây những người liên đới sẽ phải trả lời, điều mà dư luận có thể dự đoán là họ sẽ phủ nhận các hành vi tra tấn (mà sự thực là mới đây họ đã đồng loạt phủ nhận), bức cung mà ông Chấn tố cáo bời không có chứng cứ, trừ những đơn thư của chính ông Chấn.
Không có chứng cứ, không thể kết tội đó là nói về phía pháp luật, còn dân gian người ta nói “ác giả, ác báo”. Nghe nói hai trong số những người liên quan đã bị tai nạn, một chết, một chấn thương sọ não, âu cũng là “trời xanh có mắt”. Những người còn lại dù có thoát khỏi sự trừng phạt của pháp luật, liệu có thoát sự trừng phạt của lương tâm, liệu có sống yên ổn đến lúc xế chiều?
Phó thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc nói có 30% công chức thuộc diện “cắp ô”, nếu chỉ như vậy thì người dân vẫn còn quá may mắn bởi lẽ mỗi người dân, mỗi gia đình chỉ bị “mất cắp” lưng cơm, miếng cá. Khi mà những công chức ấy, thay vì “cắp ô” lại mang “lưỡi hái’ thì nguy cơ mất cắp mạng sống của người dân mới là điều đáng nói. Nếu không có tình tiết giảm nhẹ (gia đình liệt sĩ) thì án mà ông Chấn phải nhận sẽ là tử hình và đến nay chắc gì đã được mồ yên mả đẹp?
Ngày xưa quan là “phụ mẫu’ của dân, ngày nay họ là “đầy tớ” của dân. Cái chữ “phụ mẫu” một mặt thể hiện sự hống hách, trịch thượng, sự khẳng định uy quyền của kẻ làm quan thời phong kiến, nhưng mặt khác lại cũng  ngầm răn dạy người làm quan phải hiểu nghĩa vụ của mình đối với dân chúng.

Bản năng tự nhiên của “phụ mẫu” là chăm sóc cho con cái, dành những gì tốt nhất cho con cái, vì thế mới có câu “hổ dữ không ăn thịt con”. Còn đầy tớ, nét đặc trưng thứ nhất là ít được học hành đến nơi đến chốn, nét đặc trương thứ hai khi nhận lời làm thuê là kiếm được nhiều tiền.

Với đặc điểm “tự nhiên” như thế, bao nhiêu “đầy tớ” sẽ trung thành với những ông chủ nghèo mà không bỏ đi tìm kẻ giàu hơn để phụng sự? Bao nhiêu “đầy tớ” mà chủ có thể tin tường giao phó chìa khóa khi vắng nhà? Xã hội ngày xưa có những đầy tớ như Yết Kiêu, Dã Tượng, tuyệt đối trung thành với chủ, vì họ là những “đầy tớ thật”, xã hội ngày nay “đầy tớ” sẵn sàng phá két chủ nhà, thậm chí ngồi trên đầu chủ nhà vì đó là các “đầy tớ rởm”.
TS. Nguyễn Sĩ Dũng nêu ý kiến: “Có vẻ như đầy tớ nào cũng có quyền, nhưng mỗi khi xảy ra sự cố, ít đầy tớ nào chịu đứng ra nhận trách nhiệm. Điều này đúng cho mọi chuyện - từ chuyện cây rừng bị chắt phá, đến chuyện thực phẩm bị nhiễm độc”[2].
Đầy tớ ăn cắp chỉ là chuyện nhỏ, một khi “đầy tớ” nhân danh công lý, dưới cái ô pháp luật, kề lười hái vào cổ chủ nhân thì xã hội sẽ là cái gì?
Phó Chủ nhiệm UB Tư pháp QH Nguyễn Đình Quyền ngày 6/11/2013 phát biểu: “Tất cả các cấp đều phải xem xét lại trách nhiệm của mình. Trách nhiệm liên quan đến hai yếu tố: quá tự tin và cẩu thả. Còn ở vụ này, năng lực yếu và trách nhiệm chưa cao” [3].
Được biết Văn phòng Chủ tịch nước đã có ý kiến, một số đại biểu Quốc hội đã lên tiếng, Bộ trưởng Công an cũng đã lên tiếng, mấy vị bên Kiểm sát thì đã họp báo, nhìn vào cầu vai của họ thấy ba sao (tức là tương đương thượng tướng đấy).

Chủ tọa phiên tòa ngày xưa cũng đã lên tiếng, Tuổitrẻ Online ngày 8/11/2013 dẫn lời ông Nguyễn Minh Năng: “Hồi xưa xét xử thì dựa trên chứng cứ, tài liệu vụ án, chứ giờ vụ án đã lâu không nhớ nổi. Giờ bị cáo bị oan sai thì trách nhiệm là do Quốc hội chứ biết sao được, tốt nhất là nhà báo đừng hỏi nữa”.

Vẫn trong bài báo trên ông Trần Văn Duyên nguyên thẩm phán phiên xét xử sơ thẩm năm 2004, nói: “Cấp phúc thẩm tuyên y án thì có nghĩa chúng tôi xử đúng rồi và chúng tôi cũng không có trách nhiệm gì, giờ vụ án có sai thì trách nhiệm thuộc về cấp phúc thẩm của tòa tối cao”.
Theo ý ông Quyền thì phải “xem xét” đến cấp nào, cấp nào là cấp “cẩu thả” nhất, sơ thẩm, phúc thẩm hay… “trên thẩm”?
Chỉ số công lý (Justice Index) 2012 do Hội Luật gia Việt Nam (VLA), Trung tâm Nghiên cứu phát triển và hỗ trợ cộng đồng (CECODES) và Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc (UNDP) phối hợp nghiên cứu. Kết quả công bố ngày 3/10/2013 cho thấy 42,4% số người dân được hỏi không biết hoặc chưa bao giờ nghe nói đến Hiến pháp.

Dân không biết đến Hiến pháp, pháp luật nghĩa là không biết quyền và nghĩa vụ của mình, nghĩa là khi cần thì dân tự xử, kể cả việc đó trái pháp luật (như việc đánh chết kẻ trộm chó). Một số người hiểu biết pháp luật thì lợi dụng sự thiếu hiểu biết của dân (như ông Chấn) để dạy họ cách cầm dao đâm người, dạy họ tập bê xác chết để có chứng cứ kết tội chính họ.
Càng biết, càng nói thì càng đau lòng, mong sao sẽ sớm đến ngày trong tay một số “đầy tớ” không còn lưỡi hái của tử thần, hãy trả “đầy tớ” về đúng vị trí của “đầy tớ”, hãy để cho "ông chủ" có quyền thuê "đầy tớ" và cũng có quyền tống khứ loại "đầy tớ" bất tài mà thừa tàn nhẫn ra khỏi nhà.

Không làm được như vậy, sẽ còn tiếp có án oan, sẽ còn tiếp những người vô tội mà số phận không được may mắn như ông Chấn. Nhân ngày Pháp luật nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (9/11 hàng năm) hy vọng sau vụ xét xử hủy bản án của ông Chấn sẽ còn nhiều phiên tòa nữa liên quan đến những kẻ đang phủi tay chối tội, đang cố đùn đẩy sự vô lương tâm của mình cho người khác. Những con rùa rụt cổ, dù chết hay sống cũng phải được mang ra trước ánh sáng công lý.

                                                                           Nguồn: Giáo dục Việt nam
                                                                                  http://giaoduc.net.vn

16 tháng 10 2013

Lão Khoa làm cố vấn ái tình

VOV.VN -Nhà thơ Trần Đăng Khoa trả lời thư bạn đọc bằng giọng văn hóm hỉnh của riêng mình

Trần Đăng Khoa (Hí họa của họa sỹ còm)

**Anh Khoa ơi, em rất thích chuyên mục này có sự tham gia của anh. Nội dung rất hay. Mới mẻ và hấp dẫn. Các anh cũng nên dành một vài trang cho giới học đường. Lượng bạn đọc ấy đông lắm đấy. Trong trường em, nhiều người đọc lắm.
Học sinh em bây giờ có đứa nghịch như quỷ. Hồi còn là học sinh, anh có  nghịch ngợm không? Trò nghịch của anh thường là gì?Nghe nói khi còn có tí tuổi, anh đã làm “cố vấn ái tình”. Thực hư chuyện ấy ra sao? (Vũ Hà Phan, Vũ Thư – Thái Bình) 
**Có lần thấy trên Blog tòa soạn, anh bàn về tình yêu, lại tư vấn chuyện chăn gối như trên chuyên mục “Cửa sổ tình yêu” phát trên sóng Đài. Em đọc ngay. Đọc vì tò mò, ông này biết quái gì chuyện tình dục mà cũng bàn chuyện giường chiếu. Nhưng đọc thì công nhận ông anh “siêu” thật.  Đọc rồi không quên được. Em cứ bật cười. Tự dưng cũng muốn nói câu gì đó! Đúng rồi! Lòng tham vô độ của đàn ông.  Đó chính là bản chất của con đực: chinh phục rồi chiếm đoạt và cả thèm chóng chán. Em công nhận ông anh là chuyên gia giường chiếu, chí ít ở mặt lý thuyết.
Nghe nói hồi nhỏ, anh còn làm người tư vấn yêu đương. Nghĩa là anh đã trác táng từ thuở bé…(!) Anh có thể bật mí được không?(Hương Tình ái, Tân An- Lập Thạch- Phú Thọ)
Trần Đăng Khoa: Cám ơn cô giáo Vũ Hà Phan đã quan tâm đến Blog Tòa soạn. Nguyện vọng của cô giáo, mong căn nhà ấm cúng VOV trổ thêm một ô cửa sổ để lé mắt chiêm ngưỡng giới học đường là một gợi ý hay, tôi xin chuyển cho Ban biên tập tòa báo nghiên cứu.
Trẻ con thì thời nào cũng thế thôi, cô giáo ạ. Các cụ nói cấm có sai bao giờ. Các cụ bảo: Nhất quỷ nhì ma, thứ ba học trò. Quỷ thì không có rồi. Ma cũng chẳng có nốt. Thế thì chỉ còn đám học trò thôi. Tôi cũng là một con quái vật đứng sau ma quỷ. Chẳng “tử tế” gì đâu. Đối với cái lũ đứng thứ ba mà không có thứ nhất, thứ nhì ấy thì khoái nhất là mỗi kỳ nghỉ hè. Không phải bây giờ mà từ xửa xưa kia. Chả thế mà cụ Nam Cao cũng bảo: Buổi sáng sướng nhất của một cậu học trò có lẽ là buổi sáng đầu tiên trong vụ nghỉ hè.
Đúng quá! Nghỉ hè rồi. Không phải bù đầu vào chuyện bài vở. Có thể tha hồ đi chơi thoả thích, mệt thì lăn ra giường mà ngủ. Muốn ngủ đến bao giờ cũng được. Sướng! Vua chẳng bằng mình. Ông giời cũng chẳng bằng mình!
Ấy là nói đám học trò ở thành phố thôi, cô giáo ơi. Còn lũ nhà quê chân lấm tay bùn chúng tôi thì chẳng bao giờ có mùa hè. Nghĩa là chẳng có sự chơi bời nào hết. Suốt ngày úp mặt vào đồng ruộng. Mùa hè thì cả ngày làm quần quật trên đồng.
Có khác chăng vào kỳ nghỉ hè, ở cái làng quê hẻo lánh của tôi có tưng bừng hơn đôi chút, bởi sự có mặt của anh Bản. Anh là một ông giáo, đi dạy học ở tỉnh xa. Chỉ có vụ hè anh mới về nhà. Anh về là tưng bừng khắp làng trên xóm dưới. Rồi theo yêu cầu của ông chủ tịch xã, anh đến dự các cuộc họp và nói chuyện thời sự, toàn những chuyện vui anh thu lượm được qua báo, qua đài, rồi véo von ca mấy câu cải lương rất chi là mùi mẫn. Cứ như ông chủ tịch xã nói thì “không khéo làng này khối cô chết mê chết mệt vì nó!"
Chẳng biết ở làng có cô nào "chết mê chết mệt" anh không, nhưng có một người quả có mê anh thật. Đó là chị Nụ. Chị là xã viên chăn nuôi lợn. Người chị thấp đậm, đi lạch bạch, nhưng trắng nõn. Cặp má bầu bĩnh, lúc nào cũng đỏ au như quả táo chín. Chị hay rủ tôi sang nhà anh Bản mượn sách, toàn những cuốn dày cộp. Mượn tối hôm trước, sáng sớm hôm sau, chị đã mang trả. Chị kẹp vào trang sách hai sợi chỉ hồng buộc xoắn vào nhau. Nhưng anh Bản thì dường như không biết đến sợi chỉ ấy. Anh cứ hí hoáy đếm xem cuốn sách có bị thiếu mất trang nào không? Anh bảo, cho mượn sách anh không sợ, anh chỉ sợ người ta xé mất sách. Chị Nụ bực lắm. Rồi bao nhiêu nỗi bực dọc không kìm nén được, chị lại trút sang tôi:
- Người đâu mà ngốc thế. Mang danh trí thức mà lão còn đần hơn cả mấy con lợn con của chị. Chị tặng lão cái khăn mùi-soa. Trong khăn, chị  thêu hai con chim đang mớm cho nhau. Lão lại tưởng chị  quên cái khăn trong cuốn sách, lại mang đến trả "Người đâu mà đoảng, có mỗi cái khăn cũng bỏ quên thế này thì còn làm được gì". Em bảo thế chị có điên không?"
Chị gầy xọp hẳn đi. Rồi mấy ngày sau, chị  lại tìm tôi. Cứ lúc nào buồn mà không biết trút nỗi niềm vào đâu, chị lại tìm đến tôi. Có lẽ vì thế mà bạn Tân An, bút danh Hương Tình Yêu lại nghĩ tôi là “cố vấn ái tình chăng”.
Ở quê tôi hồi đó, ai cũng quý anh Bản. Làng có đám cưới, người ta lại vời anh về. Đám cưới nào, người ta cũng muốn anh làm chủ hôn. Anh vừa cầm cái micro là cả rạp đang ầm ĩ là thế bỗng im tăm tắp. Nhiều người lại cứ tưởng là đám cưới thuê được anh chủ hôn ở đâu đó, chứ không dám tin đó là anh giáo con ông phó cối làng mình.
Đầu tiên, thế nào anh cũng yêu cầu quan viên hai họ tặng cô dâu chú rể một tràng pháo tay. “Hỏng, hỏng. Làm lại nào. Tôi ra hiệu đụp, bà con hẵngđụp nhé. Tôi chưa ra hiệu sao bà con đã vội đụp rồi. Chỉ được cái ăn cơm trước kẻng”. Rồi anh vẫy bên phải, vẫy bên trái, vẫy đều cả hai bên. Tiếng vỗ tay ào lên như sóng. Còn anh thì quay cuồng như con chim cánh cụt, vừa từ dưới biển lên, đang vẩy cánh cho khô. Mấy bà thợ cấy nắc nỏm: “Gớm cái thằng xuya thật. Nó nói đến kiến trong lỗ cũng phải bò ra!”
Ấy chỉ có thế mà chị Nụ mê đấy. Chị bảo tôi:
- Chị yêu lão lắm, Khoa ạ. Chị không còn làm ăn gì được nữa, mà lão thì vừa ngốc vừa đần. Vậy mà không hiểu sao, lúc nào chị cũng nghĩ đến lão. Bây giờ chị cứ nói bộp vào mặt lão là chị rất yêu lão, em bảo có nên không?  Có vô duyên, có mang tiếng là cọc lại đi tìm trâu không? Nhưng mà trâu ngốc, trâu ngu, nên cọc mới phải đi tìm...
Tôi ngẩn ra nhìn chị. Thật là chẳng còn hiểu ra làm sao cả. Chị  rơm rớm nước mắt:
- Chị rất tin em, em đi đây đi đó nhiều, em biết làm thơ, lại chăm chỉ đọc sách, báo...
- Nhưng chị  phải xem anh ấy có yêu chị không? Chị nên thử đã, rồi hãy nói thật với anh ấy!
- Thử thế  nào? - Chị có vẻ tò mò. 
- Thì chị  cứ gặp anh ấy, tung ra một cái tin vịt, là chị  sắp phải lấy chồng, lấy gã Tứ hâm. Bố  chị bắt phải lấy...
Chị Nụ  giãy nảy:
- Lão Tứ thọt  ấy à? Ối giời, cái lão vừa chấm phẩy, vừa điếc lác, làm sao mà lấy được...
- Thì chị chỉ "thử" thôi mà! Thử xem anh ấy phản  ứng ra sao, nếu yêu chị, anh ấy sẽ cuống lên cho mà xem...
Chị Nụ  thở phào. Đôi mắt ánh lên một tia sáng trong trẻo. Tự dưng, tôi thấy chị rất đẹp. Một vẻ đẹp thật nhuần hậu. Chị cười:
- Ừ, mày đọc nhiều sách cũng có khác. Sách nó bảo thế  hở?
Chị Nụ vui lắm. Nhưng tôi còn vui hơn. Vui và hồi hộp, và phấp phỏng nữa. Chả gì mình cũng mới tò tè học có lớp 7, thế mà đã đi  làm cố vấn cho người lớn rồi, mà cố vấn ái tình hẳn hoi nhé. Ngày hôm sau, tôi tìm chị Nụ:
- Chị thấy anh ấy sao? Có luống cuống hốt hoảng không?
- Hốt cái khỉ  gì? - Chị Nụ rơm rớm nước  mắt. - Lão lại mừng như vớ được của: "Bao giờ cưới, Nụ nhớ báo trước cho tớ nhé, để tớ làm chủ hôn". Ối giời ơi là giời. Em bảo thế thì chị còn biết làm thế nào?
- Thế thì chị trả thù lão đi!
- Cái gì? - Chị  Nụ trợn mắt nhìn tôi.
- Trả thù! Nghĩa là chị lấy béng luôn cái gã chấm phảy ấy cho lão tiếc!
- Ối giời ơi, làm sao lại có chuyện thế được! Cứ tưởng mày đọc nhiều sách, mày thông minh, mày được người ta gọi là Thần Đồng. Hoá ra mày cũng ngu! Thần đồng gì mà ngu hơn cả lợn!
Nói rồi, chị bẻ ngoéo luôn cành xoan, còn tôi thì  ù té chạy. Chị vung cành xoan lạch bạch đuổi theo tôi, như đuổi một con lợn vừa mới xổng chuồng.../.

                                                                                                                                                                        Trần Đăng Khoa/VOV


13 tháng 9 2013

NGUỒN GỐC TẾT VÀ TẾT TRUNG THU


             “Tết” là một từ được xuất xứ bởi nghĩa Hán -Việt của từ “Tiết” mà ra. Theo một số tác giả thì Tết là biến âm của từ “Tiết” trong “Tiết khí’. Ban đầu là dùng để chỉ những lễ đặc biệt của người dân Việt xưa, là những dịp nương theo mùa vụ, còn mùa vụ thì lại nương theo thời tiết mà thành. Vì vậy trong một năm thì lớn nhất là Tết Nguyên đán (vào tiết đầu Xuân), dân gian còn gọi là Tết cả. Rồi đến Tết Trung thu (vào giữa mùa Thu) rằm tháng Tám. Ngoài ra còn có Tết Đoan ngọ (mùa Hạ) mồng năm tháng Năm, Tết Hàn thực mồng ba tháng Ba. Ở một số nơi thuộc Đồng bằng Bắc Bộ còn giữ phong tục ăn Tết Cơm Mới (mồng mười tháng Mười âm) và Tết Trùng cửu (mồng chín tháng Chín). 
Theo truyền thuyết Trung Hoa, tết Trung thu được xuất phát vào thời nhà Đường. Chuyện kể rằng, vua Đường Minh Hoàng dạo chơi  trong vườn Ngự Uyển vào đêm rằm tháng tám âm lịch. Đêm Trung Thu, trăng rất tròn và trong sáng. Trời thật đẹp, không khí lại mát mẻ. Nhà vua đang thưởng thức cảnh đẹp thì gặp đạo sĩ La Công Viễn, còn  gọi là Diệp Pháp Thiện. Đạo sĩ có phép tiên đưa nhà vua lên cung trăng. Ở đấy, cảnh trí càng đẹp hơn. Nhà vua hân hoan thưởng thức cảnh tiên trong âm thanh du dương và ánh sáng huyền diệu cùng các nàng tiên tha thướt xiêm y đủ màu, xinh tươi múa hát. Trong giờ phút tuyệt vời ấy nhà vua quên cả là trời đã gần sáng. Đạo sĩ phải nhắc, nhà vua mới ra về, nhưng trong lòng vẫn bâng khuâng luyến tiếc. 
Về tới hoàng cung, nhà vua còn vấn vương tiên cảnh nên đã cho chế ra Khúc Nghê Thường Vũ Y, và cứ đến đêm rằm tháng tám lại ra lệnh cho dân gian tổ chức rước đèn và bày tiệc ăn mừng, trong khi nhà vua cùng với Dương Quí Phi uống rượu dưới trăng ngắm đoàn cung nữ múa hát để kỷ niệm lần du nguyệt điện kỳ diệu của mình. Kể từ đó, việc tổ chức rước đèn và bày tiệc trong ngày rằm tháng tám đã trở thành phong tục của dân gian. 
Người Việt Nam ăn Tết Nguyên Đán là tết lớn nhất. Nhưng theo một sô tác giả thì người Việt cổ lại lại có lễ hội quan trọng vào mùa Thu (Có người cho đó là tết Trung thu). Bằng chứng là trên mặt trống đồng có in khắc hình ảnh lễ hội, hẳn phải là lớn nhất hoặc tiêu biểu nhất nên mới được người xưa chọn khắc lên mặt trống thiêng này. Ở đây có thấy hình bông lau, là thứ chỉ nở vào mùa thu. 
Trong văn hóa lúa nước của người Việt, Trăng có một ý nghĩa rất to lớn, bởi nó gắn liền với âm lịch (lịch mùa vụ và mọi hoạt động của người Việt cổ). Mùa thu lại là lúc tiết trời mát mẻ, khí hậu dễ chịu so với nhiều thời điểm khắc nghiệt khác trong năm. Ngày rằm tháng Tám là khi trăng sáng nhất và đẹp nhất. Lúc này còn là lúc công việc nông nhàn. Lẽ nào một tộc người ưa Lễ hội và thường trực ngắm trăng như người Việt lại chỉ xem trăng cho công việc làm ăn mà không là thưởng ngoạn, vì vậy mới có tết Trung thu. Điều đó không liên quan gì đến tích cổ về Trung thu của người Trung Hoa như phần dẫn tíchở trên.
Trong văn hóa người Việt, hình tượng trăng còn có điểm trái ngược với văn hóa Trung Hoa. Theo các giáo sư sử học Trần Quốc Vượng và Kim Định thì mặt trăng trong văn hóa Việt mang “giống đực”, khác với văn hóa Trung Hoa, trăng  là “giống cái”. Người Việt nói: “Ông trăng mà lấy bà trời”, hay ở bài đồng giao: “Ông giẳng, ông giăng (tức là trăng). Xuống chơi với cháu. Có bầu có bạn…” Về truyền thuyết câu chuyện Chú Cuội ngồi gốc cây đa càng thực sự là một tích chuyện thuần Việt hoàn toàn.
Trong kho tàng truyện kể dân gian có tích kể rằng, gia đình nọ sinh được 3 anh em, người anh cả tên là Thỏ Nâu, anh thứ 2 là Thỏ Trắng và người em gái út tên là Thỏ Ngọc. Năm ấy dân làng mất mùa, đói kém, vào dịp Trung Thu – tháng tám nhiều gia đình đã phải ly tán. Sau khi nhặt nhạnh tất cả những gì làm được thức ăn cho các con, bố mẹ 3 bạn thỏ đã từ biệt các con vào rừng xa để kiếm ăn. Ba anh em thỏ gạt nước mắt trông theo cho đến khi bóng bố mẹ khuất dần sau rặng núi xa xa.
Trời vẫn mưa như trút, gió rét lạnh buốt xương. Ba nahh em thỏ phải ôm nhau cho đỡ lạnh. Thương em nên Thỏ Nâu đã ra ngoài kiếm củi khô để sưởi ấm cho hai em, không may bị ốm nặng. Thức ăn bố mẹ để lại ngày một ít đi. Do đói, rét và chăm anh nên thỏ Trắng cuối cùng cũng bị ốm. Gió và mưa mỗi lúc càng mạnh, khiến căn nhà nhỏ vốn đã chông chênh, giờ đây như muốn đổ sập. Không còn một nhánh củi khô nào, thức ăn cũng đã cạn hết. Nhìn hai người anh ốm mê man, chân tay lạnh ngắt khiến Thỏ Ngọc rất xót xa...Sau một hồi tìm kiếm, cuối cùng cô bé đã vui sướng khi nhìn xuống mái tóc của mình. Đúng rồi, cô sẽ cắt mái tóc của mình để làm củi đốt sưởi ấm cho 2 anh...Khi 2 người anh tỉnh dậy thì thấy Thỏ Ngọc nằm bất tỉnh, hai anh vội lay gọi em. Thì ra, sau khi cắt đi mái tóc của mình để sưởi ấm cho 2 anh, cô bé còn cắn bật máu tay  mình để tiếp sức cho 2 anh. Thỏ Trắng và Thỏ Nâu khóc gào gọi tên em, nhưng Thỏ Ngọc vấn nằm im, mắt nhắm nghiền. Vừa khi đó bố mẹ của 3 anh em cũng về đến, trên tay họ là giỏ bánh bột trắng thơm phức. Các con ơi, bố mẹ đã kiếm được thức ăn rồi!. Nhưng tiếng reo của họ đã vội ngừng lại khi nhìn thấy cô con gái út Thỏ Ngọc. Con ơi tỉnh dậy mà nếm miếng bánh bố mẹ đã mang về này. Nhưng mặc cho bố mẹ gọi, Thỏ Ngọc đã vĩnh viễn rời xa. Cô bé đã tiếp sức cho 2 anh đến giọt máu cuối cùng.
Những chiếc bánh bột trắng tinh khiết (Sau này chính là bánh dẻo) đã thấm đầy nước mắt của thỏ bố, thỏ mẹ và 2 thỏ anh, trở thành một màu nâu vàng sẫm, giống như những ngọn lửa đang cháy (Đó chính là món bánh nướng ngày nay). Dường như tình yếu thương dâng trào quá lớn, không ai còn cảm thấy đói và rét nữa. Câu chuyện này đã làm cảm động đến Ngọc Hoàng thượng đế, nên Người đã ban cho Thỏ Ngọc sống lại, cả gia đình ôm lấy nhau mừng rỡ. Thỏ Ngọc đã xin với Ngọc Hoàng ban cho dân làng không còn bị đói rét nữa. Cũng vì vậy mà ngày tết Trung Thu bây giờ không còn có gió rét như xưa.
Để ghi nhớ tấm lòng hiếu thảo của bé Thỏ Ngọc, từ đó người ta đã lấy ngày rằm tháng tám là ngày tết Trung Thu dành cho các bạn nhỏ chăm ngoan. Một mâm cỗ Trung Thu, dù to hay nhỏ thì đĩa bánh dẻo và bánh nướng vẫn luôn là những món được trưng bày thật trang trọng.
Từ những điều kể trên cho ta thấy, tết Trung Thu của Người Việt đã có từ xưa. Có chăng là sau này tiếp xúc với nền văn hóa Trung Hoa cả một thời gian dài, sự giao thoa văn hóa đã du nhập thêm một số tập tục và thành tố văn hóa của người Trung Hoa, âu cũng là để làm phong phú thêm cho văn hóa tết Trung Thu của người Việt Nam ./.


                                                                                        Mạnh Nguyên

                                                                           

10 tháng 8 2013

VỤ KHỦNG BỐ Ở SOI CỜ NĂM ẤY

(Bài viết nhân kỷ niệm 65 năm thành lập đảng bộ Bảo Thắng 15/10/1948 – 15 10/2013)

Nói về phong trào Cách Mạng ở khu căn cứ Cách Mạng Soi Cờ, đặc biệt là sau vụ khủng bố, giết người, đốt làng của quân đội Pháp. Cụ Ngô Hữu Khôi - một chiến sỹ của đại đội “Thắng Bình”, thuộc Trung đoàn 165, F312 làm nhiệm vụ giải phóng Lào Cai  kể lại:

Soi Cờ trước đây thuộc xã Thái Bo (nay  là xã Gia Phú, huyện Bảo Thắng). Đây là một bãi soi nằm giữa sông Hồng và cửa ngòi Bo, đối diện với Làng Đo của Thái Niên. Ngày ấy ở bãi Soi này chủ yếu là người dân Liễu Châu, phủ Quảng Oai (Sơn Tây) lên khai hoang lập ấp. Vụ khủng bố đẫm máu của địch vào thôn So Cờ ngay trước thời điểm thành lập tổ chức Đảng đầu tiên trên địa bàn Huyện (1948), là một trong những hành động uy hiếp tinh thần quần chúng, nhằm chặn lại sự phát triển mạnh mẽ của phong trào Cách mạng ở Bảo Thắng. Nhưng kẻ địch không thể hiểu được rằng, hành động ấy đã không làm cho lòng dân nao núng. Ngược lại nó còn làm tăng thêm nỗi căm hận giặc, thổi bùng lên ngọn lửa đấu tranh trong quần chúng nhân dân. 

Nhà tưởng niệm Khu di tích Soi Cờ
          Trước đó, tên quan một Bruché (B-Ruy-chê) - trưởng đồn Bến Đền đã có một báo cáo khẩn lên cấp trên của Y, Y nhấn mạnh: “Một báo hiệu nguy hiểm đã tới, Việt Minh đã thâm nhập vào dân chúng có hiện tượng chống bắt phu, thu thuế, các chức dịch làm việc gặp nhiều khó khăn” ([1]).

Trở lại với vụ khủng bố này, cần phải nhắc đến một người tên là Ngô Hữu Ngôn, ông Ngôn là người gốc Liễu Châu. Thời kỳ Quốc Dân Đảng chiếm đóng, ông Ngôn đã từng làm việc cho chúng. Cùng hoạt động và nắm giữ các chức vụ chủ chốt trong chi bộ Quốc Dân Đảng còn có Bếp Hoàn (chi bộ trưởng), Bếp Hậu (đại vụ trưởng). Ông Ngôn được giao phụ trách quân vụ trưởng - người nắm giữ lực lượng vũ trang địa phương. Nhưng sau này do nhận rõ bộ mặt thật của Quốc Dân Đảng là phản động; được sự bảo trợ của quân Tàu - Tưởng, “Việt Nam Quốc Dân Đảng lập ra chính quyền phản động như: Tỉnh chính phủ, quốc dân quân, hiến binh...Thực chất là bộ máy để áp bức, bóc lột nhân dân, cướp bóc, tống tiền các nhà có máu mặt, phát hành tiền giả, bắt bớ tra tấn dã man những người yêu nước. Nhiều người bị chúng đánh đập rồi thủ tiêu bằng cách cho vào bao tải buộc kèm đá hộc đưa ra cầu Cốc Lếu quẳng xuống sông Hồng” ([2]).

Chứng kiến những hành động tàn bạo, dã man đó của Quốc Dân Đảng, ông Ngô Hữu Ngôn đã nhiều lần công khai phản đối sự o ép, bóc lột nhân dân của tổ chức này. Vì vậy đã dẫn tới mâu thuẫn giữa Ông với Bếp Hoàn và Bếp Hậu. Cuối cùng ông Ngôn quyết định từ bỏ, không hoạt động cho Quốc Dân Đảng nữa.

Năm 1948, Chủ trương của tỉnh Ủy Lào Cai là phát triển Việt Minh lên địa bàn Bảo Thắng, đồng chí Lê Đức Bình, ủy viên thường vụ tỉnh Ủy Lào Cai cử đồng chí Nguyễn Đức Thắng ([3]) dẫn tổ công tác vào hậu địch để thăm dò và xây dựng cơ sở. Trên đường đi, Tổ công tác có qua đại đội Thắng Bình, Nguyễn Đức Thắng đã gặp tôi - khi ấy là chiến sĩ của Đại đội. Khôi đã giới thiệu với đồng chí Thắng là, đến Soi cờ thì tìm gặp chú ruột mình là Ngô Hữu Ngôn để bắt mối. Tổ công tác đi trót lọt đến Soi Cờ, gặp được Ngô Hữu Ngôn. Sau khi được tuyên truyền, giác ngộ cách mạng, ông Ngôn đã nhận nhiệm vụ và trở thành giao thông viên đầu tiên của Ta giữa vùng địch hậu và vùng tự do. Ngay lần đầu tiên ông Ngôn đã vượt rừng trót lọt ra vùng tự do, mang thư của Tổ công tác báo cáo với Tỉnh ủy (lúc ấy đóng ở Lục Yên-Yên Bái) với nội dung, Tổ công tác đã bám được Soi Cờ và được quần chúng nhân dân rất hưởng ứng. Hoạt động của Tổ công tác đang có chiều hướng thuận lợi thì địch đánh hơi được, chúng quyết định mở trận càn vào Soi Cờ, hòng dập tắt phong trào Cách Mạng, đồng thời tiêu diệt lực lượng bí mật của ta đang hoạt động trong thôn. Lực lượng của ta lúc ấy mới chỉ là một tổ công tác “không vũ trang”, đóng ở trên rừng, được nhân dân các thôn Soi Cờ, Soi Giá và Cánh Địa bí mật nuôi dấu.

Sau này có người kể lại, trước hôm địch càn vào làng, ông Ngôn và một số người trong thôn đã nhận được thông tin tiết lộ từ lực lượng ngụy quân, nhưng vì sáng hôn ấy trời mưa rất to nên mọi người chủ quan, cho rằng địch sẽ không đi càn như dự định. Tuy nhiên đúng như tin báo, khoảng 8-9 sáng thì địch ập đến bao vây, vào làng bắt bớ; chúng bắt tất cả những ai là đàn ông. Theo ông Nguyễn Tài Nhuận, một người chạy thoát được trong cuộc vây bắt hôm đó kể lại rằng, khi bắt được ông Ngôn, bọn địch đã dùng súng đánh đập Ông rất dã man, rồi sau đó mới dẫn Ông cùng 13 người đàn ông khác ra bãi bắn- trong số này, ngoài những người dân gốc Liễu Châu (Sơn Tây), còn có thêm 4 người quê Nam Định.

Bọn địch trói tất cả những người bị bắt ở rặng xoan cuối bãi, gần cây đa Soi Cờ, bắn chết, liền sau đó chúng quay lại đốt cháy hết cả thôn. Đây thực sự là một tổn thất đau lòng, vì phần lớn đàn ông, trai tráng đều bị giết hại trong vụ khủng bố này. Song, tất cả họ đều không hé răng khai báo vị trí hoạt động của tổ công tác. Vì vậy, toàn bộ lực lượng nòng cốt của ta vẫn giữ được bí mật và bảo đảm an toàn.
Thắp hương tại bia tưởng niệm
Nhân dịp đầu Xuân mới 1999, ông Nguyễn Đức Thắng có viết thư cho tôi, trong thư Nguyễn Đức Thắng còn xúc động nhắc lại tình cảm của bà con khu căn cứ Soi Cờ, Soi Giá và Cánh Địa như một sự tri ân. Ông nói: Tôi rất biết ơn bà con nhân dân các dân tộc huyện Nhà, đặc biệt là bà con Soi Cờ, Soi Giá, Cánh Địa đã tạo điều kiện cho chúng tôi làm tròn nhiệm vụ Đảng giao. Giúp chúng tôi có nơi ăn chốn ở; giúp làm giao liên, chở đò, mang công văn giấy tờ ra vùng tự do; giúp chúng tôi phát triển phong trào, gây cơ sở, tạo lòng tin cho đồng bào tham gia kháng chiến.

Sau vụ địch khủng bố, hầu hết anh em nam giới bị địch giết hại hoặc vào bộ đội. Chị em phụ nữ ở căn cứ địa “vùng đất thánh” này đã không hề nao núng. Họ tiếp tục thay chồng con, tăng gia sản xuất và không quên nhiệm vụ tuần tra, canh gác, làm giao liên phục vụ hoạt động của bộ đội.

Cũng theo đồng chí Nguyễn Đức Thắng thì chị em phụ nữ của Khu căn cứ Cách Mạng này đã là những người khởi xướng ra phòng trào “Ba sẵn sàng” ở Xuân Giao. Có lẽ đây mới là nơi nhem nhóm phong trào “Ba sẵn sàng” đầu tiên của cả nước, chứ không phải chờ đến cuộc kháng chiến chống Mỹ sau này. Chỉ tiếc là khi ấy chưa có điều kiện để tổng kết và phát triển.

Việc làm và khí phách của quần chúng nhân dân trong Khu căn cứ Cách mạng Soi Cờ - Soi Giá - Cánh Địa đã giúp chúng tôi có được một bài học vô cùng quý báu cho những năm hoạt động Cách mạng sau này. Đó là lòng tin của quần chúng nhân dân. Khi quần chúng đã được giác ngộ, được hoạt động có tổ chức thì bất kỳ họ là ai, đàn ông hay đàn bà, người già hay thiếu niên đều có thể rở thành nguồn sức mạnh vô địch.
                                                                
                                                                            Mạnh Nguyên
                                                        Ghi theo lời kể của cụ Ngô Hữu Khôi




[1] Theo hồi ký của Đ/c Trần Long-nguyên bí thư Huyện ủy BảoThắng
[2]  Hồi ký của Đ/c Chí Nguyễn Đức Thắng, người phụ trách tổ công tác của Tỉnh ủy vào khu Địch hậu nắm địch.
[3] Đ/c Nguyễn Đức Thắng sau này kế nhiệm đ/c Trần Long làm bí thư huyện ủy Bảo Thắng.