Cả Mõ

camoz77.blogspot.com/

03 tháng 3 2014

HỊCH ĐÀN ÔNG


Viết cho dịp đón ngày 8/3 

Ta thường nghe: Ở xứ Bắc khi xưa có ông vua chi ra nghìn vàng chỉ vì nụ cười của người đẹp.
Ở xứ Tây có anh chàng thuê cả phi đội bay, lượn trên bầu trời nhà cô gái mà anh ta thầm nhớ, trộm yêu.
Với đội hình xếp thành chữ Love;
Còn ở xứ ta, lại có kẻ vơ vét của công đem cống cho gái bao, mặc dù biết vành móng ngựa đang chờ phía trước. Từ xưa đến nay, đàn ông chúng ta phải chi "tình phí" giá cao thì đời nào chẳng có?

Lại nghe: Có anh ca sĩ lợi dụng fan hâm mộ để lừa cả tình lẫn tiền của người ta; có kẻ mê rượu chè, cờ bạc đến nỗi bỏ vợ con nheo nhóc, nhà cửa tan hoang như điếm canh đê; và cũng không ít người quá ham mê công việc đến nỗi sao nhãng việc nhà, quên trách nhiệm với vợ, với con. Chuyện phụ nữ bị "phụ" nay vẫn còn đâu có hiếm?
Đáng giận hơn hơn, vẫn còn kẻ cậy thế “Tòng quyền”, cứ rượu vào là mạt sát người thân toàn những lời cay độc; mượn hơi men để “dạy”  vợ bằng cùi chỏ, nắm tay!. Những kẻ ấy há chẳng được cái đức của Chí Phèo, bởi anh Chí có mượn rượu cũng là để đấu với phường ác bá. Còn với tình yêu, dù là Thị Nở, Chí vẫn cọi như đẹp nhất trần đời.
Chúng ta, đến bữa được ăn, nửa đêm ôm gối 37 độ, được chăm chút từ tóc đến chân, vậy mà vẫn có người tự cho mình là thiệt thòi này nọ, so bì vợ với người ta ngoài đường. Anh em đâu có biết, phụ nữ ngoài đường khi về nhà cũng tất tả nào khác vợ mình, chứ đâu còn gọn gàng, nhẹ nhàng thong dong như khi họ đi dạo phố?
Lũ chúng ta, không có áo thì vợ mua áo; không có tiền thì vợ cho... tiền lẻ tiêu vặt; lúc say xỉn thì vợ dìu vào phòng thay quần áo, cạo gió và khuyến mãi một ít... cằn nhằn; nhà có việc thì vợ chia sẻ; lúc nhàn hạ thì cùng nhau nô đùa... So với Thiên Đàng nào có khác?
Thế nhưng có người suốt đời không tặng quà cho vợ, dù uống  dăm vại bia cũng có giá bằng chục bông hoa mà không thấy nghẹn; nhìn thấy vợ đẹp không khen, chỉ khen diễn viên Hàn mà chẳng ngượng mồm; đi làm về, vợ ngập đầu với công việc bếp núc, chồng lại khoắc vợt dài đi nhảy sếch với cầu lông mà chẳng thẹn lòng. Hãy thử nghĩ xem, nếu bất chợt vợ ta biến mất thì bia liệu có thay được cơm ngon, canh ngọt; diễn viên Hàn có ôm ta mỗi tối và cầu lông có cùng tay ta đi dạo phố được chăng?
Nay, xin bảo thật anh em: nên lấy việc "Vợ giận bỏ về ngoại" mà làm nguy; nhớ lấy câu "Kính vợ đắc thọ" làm tôn chỉ; tích cực hơn trong giúp vợ việc nhà và đừng tiếc lời khen. Lúc bấy giờ anh em ta có muốn vui chơi, bia bọt một tí chắc cũng không đên nỗi?
Khi tôi viết bài này, anh em nào nhạy cảm chắc sẽ rõ bụng tôi... đang đói. Mà hễ bụng đói thì anh em mình lại nghĩ đến vợ yêu!.

                                                                                                                      Không rõ tác giả            
                                                                                                                      (Có biên tập lại)

19 tháng 2 2014

ĐOẠN KẾT TRANG NHẬT KÝ

( Trích Hồi âm của T.M gửi H.T)
Lời biên tập: Xin lỗi tác giả vì bài quá dài nên chỉ
trích đăng 4 đoạn ở Blog này.

                                                         "...Em đeo kính lão đọc thư anh
                                                        Qua thư em hiểu được ngọn ngành
                                                        Không phải tình ta xa cách quá
                                                        Mà do tất cả tại chiến tranh...
                                                               ...Bạn bè thường bảo cự ly gần
                                                               Thế nào chúng nó cũng nên xuân
                                                               Đôi mươi hai đứa tràn nhựa sống
                                                               Sao vẫn hững hờ chẳng chút thân...
                                                      ...Mãi đến năm năm sau giải phóng
                                                      Binh đoàn về đóng ở Tây Nguyên
                                                      Đau xé lòng em anh có biết
                                                      Khi nhận tin anh "ván đóng thuyền"...
                                                                ... Hai lăm năm rồi em lại viết
                                                                Mấy dòng ngắn ngủi để gửi anh
                                                                Tình duyên dang dở thôi đành vậy
                                                                Đâu phải tại anh, tại chiến tranh!..."
                                                                                                   T.M

CĂN NHÀ TẬP THỂ

Lời của Tác giả: Tôi có mối tình thời hoa lửa, mời các bạn cùng đọc
 để có thêm cái nhìn về cuộc chiến tranh chống Mỹ
(Gửi tặng T.M)


Áo dài (minh họa)
Phòng nàng ở cạnh phòng tôi
Cách nhau có bức tường vôi bạc màu
Tôi sang với ngọn đèn dầu
Cùng nàng ngồi học chụm đầu tới khuya
Giải toán trừ, cộng, nhân , chia
Làm văn bài luận Ngòi Thia, Phố Ràng
Đêm đêm đèn sách cùng nàng
Cự ly, cường độ ngày càng bén duyên
Với tôi nàng đẹp như tiên
Là cô y tá vừa chuyên vừa hồng
*
Tôi mơ ước được làm chồng
Và nàng là vợ tơ lòng cùng xe
Tường vôi quét lại vôi ve
Vách ngăn dỡ bỏ, sân hè dùng chung
Nàng sang không phải thẹn thùng
Bữa cơm đạm bạc thổi cùng một niêu
Tiền lương tôi có bao nhiêu
Đưa cho nàng quản chi tiêu hằng ngày
Đêm đêm trực chiến máy bay
Có bát cháo nóng từ tay nàng làm
Tuổi xuân sức lực căng tràn
Tình yêu chắp cánh cho nàng và tôi
Ngời ngời hạnh phúc lứa đôi
Căn phòng ấm cúng tường vôi màu hồng
*
Nhưng khi chợt tỉnh giấc nồng
Phòng riêng tôi vẫn nằm không suông tình
Có nàng như bóng với hình
Vắng nàng thui thủi một mình sớm trưa
Tường vôi lại bạc hơn xưa
Cùng tôi ngày tháng nắng mưa dãi dầu
Nàng ơi nàng chuyển đi đâu
Sao không nỡ nói một câu dặn dò
Để tôi lỡ mất chuyến đò
Lỡ luôn cả tuổi học trò mộng mơ
*
Mai sau dù đến bao giờ 
Căn nhà tập thể vẫn chờ nàng sang.
                                                           N.H.T

18 tháng 2 2014

ĐÔI ĐIỀU VỀ VĂN HÓA MẠNG


Có thể nói máy tính nối mạng Internet là một thành tựu rất đáng tự hào của loài người. Nhờ có mạng Internet mà thế giới như được thu nhỏ lại, con người thân thiện với nhau hơn. Vì vậy, nếu việc sử dụng mạng Internet để phục vụ cho đời sống đúng với tính nhân văn của nó thì hạnh phúc biết nhường nào. Tuy nhiên, mọi thứ đều khó hạn chế được mặt trái, nếu bản thân đối tượng sử dụng nó còn chưa đạt được một chuẩn mực văn hóa nhất định.
         
Ảnh chỉ có mục đích minh họa
Cùng với việc nối mạng Internet toàn cầu, tiện ích từ những chiếc máy tính đã đem lại biết bao nhiêu thành quả hết sức là vĩ đại. Máy tính kết nối mạng Internet đã đưa khả năng truyền thông tiếp cận được với một lượng lớn khán giả, thính giả, đọc giả. Ngày nay trên thế giới có đến hàng tỷ người sử dụng Internet mỗi ngày. Tài liệu truyền thông từ Internet có thể được tải về rồi tiếp tục truyền đi và chia sẻ thông qua các phương tiện truyền thông khác nhau. Đó không chỉ là các phương tiện truyền thông chính thống mà còn được phát tán trên cả các trang mạng xã hội… Cho nên sức ảnh hưởng của nó vừa nhanh, vừa rộng rãi, nhưng cũng không có được một quy chuẩn nhất định nào. Có thể tón tắt về thành tựu truyền thông trên Internet như sau:
Thứ nhất là, có thể trao đổi, chia sẻ cho nhau từ văn bản đến âm thanh và hình ảnh.
Thứ hai là, việc tìm kiếm trên mạng toàn cầu đã đạt đến mức cực nhanh. Trong nhiều trường hợp, tìm một tài liệu trên mạng còn nhanh hơn tìm một địa chỉ trong cuốn niên giám điện thoại.
          Song, mặt trái - mặt tiêu cực từ những chiếc máy tính nối mạng Internet cũng tạo nên nhiều bất lợi rất nghiêm trọng cho cuộc sống. Ở đây chỉ xin được đề cập đến  hai mặt tiêu cực trong phạm vi nhất định, đó là máy tính-games và mạng xã hội từ các dịch vụ Internet.
Theo các chuyên gia về công nghệ thông tin thì trong các nhóm game trên mạng máy tính, thực tế chỉ có một tỷ lệ rất nhỏ là mang tính giáo dục, còn lại là những trò chơi ăn thua, mạo hiểm và những hành động tàn bạo “ảo”. Đối với những hành vi nguy hiểm, bạo lực trên game, nếu là với người lớn thì có thể phân biệt được thật, giả, nhưng với trẻ em thì dễ dàng bị chi phối giữa “xã hội ảo” với đời sống thực. Bởi vậy đã có không ít những vụ án mạng do trẻ vị thành niên gây nên cũng chỉ bởi ảnh hưởng từ các trò chơi bạo lực trên mạng. Về sức khỏe đối với trẻ em, các nhà y khoa cũng đã cảnh báo, ngồi trước máy tính hàng giờ rất có hại cho mắt của trẻ, nhịp tim sẽ bị thay đổi nhanh hơn bình thường - đặc biệt là khi tiếp xúc với các trò chơi game nguy hiểm, bạo lực thì còn gây nên những xáo trộn về hệ thần kinh của các em.
Mặc dù Internet là nơi cung cấp một nguồn tài nguyên vô tận về tri thức. Nhưng các nhà giáo dục cũng không khuyến khích dùng Internet cho học sinh bậc học phổ thông, vì kiến thức phổ thông không mang tính kinh điển, không cần phải cập nhật hóa từng ngày, từng tháng, từng năm, mà học sinh có thể tra cứu bằng các phương tiện rẻ tiền hơn. Mặt khác, việc lang thang trên mạng, các em có thể nhìn thấy những hình ảnh xấu, những tuyên truyền bạo lực, thù hận chủng tộc, tôn giáo, sự cổ vũ cho lối sống thiếu lành mạnh và những hệ tư tưởng lệch chuẩn. Rất nhiều học sinh thức thâu đêm không phải để học mà là  để (chat), tán dóc, nói chuyện gẫu, đấu láo với những em khác trên thế giới. Thực tế đã có không ít trường hợp bị lừa tình, bị lừa đưa đi bán…Riêng về phương diện giáo dục ta nên biết, Internet là không có ai làm chủ cả. Các mạng thông tin (network) trên thế giới tự nối với nhau mà hình thành Internet. Vì vậy khi kết nối mạng, các hình ảnh, bài viết thiếu lành mạnh cho dù không tự nhiên xuất hiện, nhưng nếu muốn thì việc tìm kiếm cũng không khó, các em vẫn có thể biết cách vào được những chỗ này.
Lại nói về các trang mạng xã hội, trong đó có các Blog cá nhân và facebook… được phát triển tự do, miễn phí trên dịch vụ mạng. Không thể phủ nhận mặt tích cực của nhiều mạng xã hội là đưa thông tin rộng, nhanh và tham gia tích cực vào các diễn đàn khoa học, diễn đàn văn hóa, kinh tế, xã hội. Nhưng cũng vì tính tự do, không có sự quản lý và người chịu trách nhiệm cho nên ở đây bộc lộ rất nhiều những hạt sạn, thậm chí là những sản phẩm văn hóa cặn bã, rác rưởi được coi như những liều thuốc kịch độc cho hệ tư tưởng và tâm - sinh lý. Chỉ nói đến văn hóa giao tiếp thôi ta đã có thể tìm ra khá nhiều những “lỗi hệ thống”, làm méo mó và mất đi tính trong sáng của ngôn ngữ. dưới đây xin được trích một đoạn ngôn ngữ của cư dân mạng tuổi “tin”, nay có nhiều người đã trên độ tuổi này cũng vẫn bị tiêm nhiễm. Một cư dân mạng kể rằng, “Sáng nay mình ngủ dậy và quyết định học kiểu chát của thanh niên Việt Nam. Mình đã thay chữ Ô bằng chữ U, nhưng chỉ trong một số trường hợp đặc biệt “thui”. Như vậy lối viết của mình xem ra sẽ “nhẹ” hơn, “dễ chịu” hơn…Chắc các bạn hiểu ý của mình “rùi”!. Trong một số trường hợp khác, mình lại bỏ hẳn chữ Ô ra, nếu viết quá chuẩn thì văn của mình như có vẻ nặng nề…Vì vậy mình không “mún” làm cho mọi người “bùn”. Không chỉ riêng nguyên âm, đôi khi phụ âm cũng bị bỏ ra, ví dụ như chư N là “mụt” trong “nhữg” “Nghi phạm” nổi bật nhất. “Nhưg” chưa “xog” đâu vì còn nhiều chữ khác nữa như trường hợp chữ H ở cuối và chữ K ở đầu đối với phụ âm kép. Thật “kin khủg” đúng “hông”?. Phải nói là còn rất nhiều kiểu bỏ chữ và thêm chữ mới. Sau đây là mấy dòng chát khá điển hình:
“Mìn sẽ bắt đầu tập trung vào việc viết tắt (vt). Bh~ n`ng noi” gr vt wá n` k tốt lém. Nhưg thui-vđề khôg fai là vt co” tốt h k, vđề la fai vt ntn!!!.” Hoặc “Xe khô jau  hÔg co ja tRi j đÂu!! Hu hu!! nhÌn mụt đoạn tHì hoA hít cả Mắt…”
Lại có chỗ (chat) bằng chữ không có dấu thanh, người đọc luận ra thế nào mặc kệ. Ví như đoạn tin nhắn sau đây: "Em hoi cho ah rui, o day chi ban long lon chu khog ban long chim!"
Không những thế, trên mấy trang facebook, các cư dân mạng của chúng ta còn choảng nhau bằng vô số ngôn từ thô thiển, tục tĩu, đến người đọc còn phải phát ngượng. Có thể ở ngoài đời họ không giám tung ra những ngôn từ này, vì dù sao cũng phải trưng cái mặt ra cho thiên hạ nhìn thấy. Nhưng sự giao tiếp trên mạng căn bản đều là ảo cả cho nên mặc đời!. Có không ít nickname với những cái tên ảo, ảnh ảo, thế là người ta cứ thoải mái tung “chưởng” vô văn hóa lên vô tư mà chẳng sợ ai nhìn thẳng vào cái mặt của mình.
Thế mới biết sự dấu mặt ở đây cũng là điều kiện để tạo nên những chí phèo hiện đại!.
Hy vọng rằng, với những thang giá trị về văn hóa, việc sử dụng một công cụ được coi là thành quả vĩ đại của loài người thì tuổi trẻ cần biết tránh xa những hạt sạn, những sản phẩm văn hóa độc hại để gìn giữ được bản sắc và giá trị vĩnh hằng của nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc. Góp phần làm đẹp thêm cho tương của dân tộc Việt Nam./.

                                                                                       Mạnh Nguyên   

05 tháng 2 2014

CÔNG ĐỨC ĐẦU NĂM

Trước tượng Quan Âm tỏ lòng thành
Ít thì tờ đỏ, lớn tờ xanh
Ngoài kia nghi ngút lò thiêu mã
Trong nọ nghi ngơ vái nhiệt thành
Dăm đồng cung tiến làm công đức
Vạn mối khẩn cầu kiếm lợi danh
Ruột sung có khác chi lòng vả
Ai bảo rằng ai chẳng vị mình!
                                 Cả Mõ (Xuân Giáp Ngọ)

01 tháng 2 2014

BẢO THẮNG MỪNG XUÂN - MỪNG ĐẢNG QUANG VINH (Tùy bút Xuân Giáp Ngọ)


          Nói tới Đảng Cộng Sản Việt Nam chúng ta thường liên tưởng tới mùa Xuân, bởi hơn 80 năm năm trước, sự ra đời của Đảng cũng đúng vào giữa tiết Xuân, sự trùng hợp ngẫu nhiên này tựa như có sắp đặt của tạo hóa. Lịch sử đã ghi nhận, Đảng ra đời còn đồng nghĩa với sự hồi sinh của dân tộc Việt Nam. Từ thi hứng về Đảng với mùa Xuân, nhà thơ Tố Hữu trong “Bài ca mùa Xuân 1961 đã viết:
“…Dã từ năm cũ bâng khuâng
Đã nghe xuân mới lâng lâng lạ thường”

“…Có gì đẹp trên đời hơn thế
Người với người sống để yêu nhau
Đảng ta cho trái tin giàu
Thẳng lưng mà bước, ngẩng đầu mà bay!”
          Lời thơ còn khẳng định, đời vui đó do Đảng ta mang lại, là ánh sáng soi đường cho dân tộc đứng lên, giành lấy tự do, hạnh phúc, hòa bình…Rồi không biết từ khi nào, hai tiếng “Đảng Ta” đã được người dân Việt Nam dùng như một danh từ riêng; một tên gọi thay cho tên chính đảng (đảng Lao Động Việt Nam-nay là đảng Cộng Sản Việt Nam) với một tình cảm gần gũi đến thân thương! Đây là hiện tượng chỉ có một, không hai trên thế giới. Điều này đã chứng minh, mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân ta không chỉ là mối quan hệ lãnh đạo mà còn là mối quan hệ máu thịt. Là người sáng lập và rèn luyện Đảng ta, theo chủ tịch Hồ Chí Minh “Trong mọi giai đoạn Cách mạng, quyền lợi của giai cấp Công nhân, của nhân dân lao động và của dân tộc là thống nhất, cho nên nó phải là đảng của dân tộc Việt Nam”.
          Kể từ khi có Đảng, đảng Cộng Sản Việt Nam đã trở thành linh hồn của Dân tộc. Đảng dẫn đường, chỉ lối để nhân dân ta chiến thắng mọi kẻ thù, từng bước vượt qua lạc hậu đói nghèo để xây dựng môt nước Việt Nam hòa bình, độc lập, đang nhanh chóng đi đến mục tiêu “ Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bàng, văn minh, vững bước đi lên Chủ nghĩa Xã hội”.
          Trong không khí từng bừng kỷ niệm 84 mùa Xuân của Đảng, chúng ta lại có dịp tự hào nhìn lại thành quả của sự nghiếp đổi mới do Đảng Cộng Sản Việt Nam đề xướng và lãnh đạo. Đó là những thành tựu phát triển thật vĩ đại mà Nghi quyết Đại hội XI của Đảng đã khẳng định: … “Diện mạo của đất nước có nhiều thay đổi. Thế và lực của nước ta vững mạnh thêm nhiều; vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế được nâng lên, tạo ra những tiền đề quan trọng để đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân”.
          Mặc dù vậy, cùng với những cơ hội mới, trước mắt chúng ta cũng còn không ít thử thách, khó khăn. Song dưới sự lãnh đạo của một Đảng đã dày dạn kinh nghiệm, với nhân dân có truyền thống yêu nước nồng nàn và có lòng tự tôn dân tộc, chúng ta có quyền tin tưởng rằng, nhân dân ta sẽ tiếp tục đoàn kết một lòng xung quanh Đảng, kiên quyết đẩy lùi thách thức, chiếm lĩnh cơ hội để đưa đất nước ta vươn lên trên con đường Cách mạng mà Đảng ta và Bác Hồ đã lựa chọn.
          Là một bộ phân cấu thành của đại gia đình các dân tộc Việt Nam, Đảng bộ, Chính quyền và nhân dân các dân tộc huyện Bảo Thắng cũng đang trên bước đường hòa nhịp cùng với dòng chảy của đất nước. Chúng ta vừa đi hết nửa chặng đường của quá trình thực hiện Nghị quyết đại hội Đảng bộ huyện lần thứ XXVI, nhiều mục tiêu kinh tế-xã hội đã đạt và vượt kế hoạch đề ra, tăng trưởng kinh tế phát triển đúng đinh hướng, thu nhập bình quân đến cuối năm 2013 đạt gần gấp đôi đầu nhiệm kỳ. Đây thực sự là động lực đề tiếp tục thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội với mục tiêu tổng quát là: “Duy trì và phát triển kinh tế với tốc độ tăng trưởng nhanh và bền vững; kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế với quốc phòng-an ninh, nâng cao chất lượng và sức chiến đấu của tổ chức cơ sở Đảng, xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa truyền thống, không ngừng nâng cao đời sống tinh thần, vật chất cho nhân dân”. Trên cơ sở cụ thể hóa nghị quyết của Đại hội bằng 6 Chương trình, 14 Đề án và 9 Kế hoạch trọng tâm. Đưa Bảo Thắng vươn lên xứng đáng là huyện trong điểm về Nông - Công nghiệp của tỉnh Lào Cai. Trong suốt nửa nhiệm kỳ, thông qua các hoạt động hướng về cơ sở, quan hệ giữa Đảng, Chính quyền với nhân dân ngày càng thêm gắn bó.Các đồng chí lãnh đạo Huyện ủy, UBND và các ngành, các đoàn thể đã thường xuyến đến với đồng bào vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn để nắm bắt tâm tư, nguyện vọng của bà con; đối thoại trực tiếp với các tầng lớp nhân dân để thấy được bức xúc, khó khăn, nhằm kịp thời tháo gỡ, đáp ứng yêu cầu của đồng bào là một nét đổi mới đáng ghi nhận.
          Tự hào từ quê hương giàu truyền thống Cách mạng; người dân có đức tính cần cù, sáng tạo, 17 dân tộc anh em trên địa bàn  Huyện đã và đang lập nên nhiều kỳ tích mới, ứng dụng thành công nhiều thành tựu khoa học vào sản xuất, hình thành nhiều mô hình chuyên canh, thâm canh, chuyển giao kỹ thuật mới, chuyển dịch cơ cấu cây trồng vật nuôi…Thực hiện chuyển dịch cơ cấu ngành từ nông nghiệp sang công nghiếp và dịch vụ. Hằng năm đã tạo thêm hàng ngàn việc làm mới, làm cho đời sống nhân dân không ngừng được cải thiện. Những sự kiện nổi bật trong năm 2013 - năm bản lề của kế hoạch 5 năm 2011-2015 đã khẳng định sự phát triển của Huyện là bền vững. Qua sơ kết giữa nhiệm kỳ của Đại hội XXVI cho thấy, phần lớn các chỉ tiêu chính đều đạt và vượt mục tiêu của Đại hội; chiến thắng thiên tai, dịch bệnh trên cây trồng vật nuôi, đảm bảo sản lượng nông nghiệp không ngừng tăng cao; các chỉ tiêu về công nghiệp, thu ngân sách, xây dựng cơ bản đều có mức tăng cao - đặc biệt, năm 2013 còn là năm chỉ tiêu thu ngân sách đạt mức cao nhất từ trước tới nay, vượt tới trên 140% kế hoạch dự toán.    
          Mùa xuân này trên  khắp các nẻo đường, từ thành thị đến nông thôn, sắc hoa xuân càng thêm rực rỡ, hòa quyện cùng các sắc màu của lễ hội. Từ các thị trấn, thị tứ đến những bản đồng bào Mông, đồng bào Dao trên núi cao, bài hát ca ngợi Đảng lại vang lên tràn đầy nhựa sống. Đó là tiếng lòng của người dân nói lên lòng ơn Đảng, khẳng định niềm tin yêu với Đảng quang vinh. Với tinh thần “Thiên lý mã” - Giáp Ngọ (2014) – năm xác định là vị trí “tăng tốc”, sẽ được Đảng bộ và nhân dân các dân tộc huyện Nhà phấn đấu đẩy nhanh tiến độ, nhằm tiếp tục hoàn thành và hoàn thành vượt mức các mục tiêu của Đại hội.

                                                                                          Cả Mõ
                                              Xu©n Gi¸p Ngä - 2014






27 tháng 1 2014

CÂU ĐÔI MỪNG XUÂN GIÁP NGỌ-2014

1. Tặng mấy anh vì nghèo mà sợ tết: 
Đêm Ba mươi công nợ rối quanh thân, nông nỗi này mấy ngàn năm hãy Tết!; 
Sớm mùng một rượu uống say bí bét, cứ đã này mỗi tháng một lần Xuân!"
Áo dài

2. Tặng những kẻ sợ già:
Năm cũ qua đi vui vẻ mừng thêm Thọ!; 
Tuổi mới đến rồi buồn tình nỗi tiêu Xuân!

Hoa Xuân

20 tháng 12 2013

CẢM NHẬN KHI ĐỌC BÀI THƠ “TIẾNG TRĂNG” CỦA LXH

              GPDD có gửi cho Mõ bài thơ này, nói là của tác giả LXH và có xin góp ý (sửa). Tiếc rằng Mõ này lại dốt về làm thơ nên không giám sửa. Mạn phép, xin được bình mấy lời như sau:


        “Tiếng trăng” của LXH là một bài thơ trữ tình, nói đúng hơn là một bài thơ tình khá hay và độc đáo. Tác giả đã mượn hình tượng “chị Hằng” làm đối tượng để dãi bày nỗi niềm riêng cho một kẻ đang say tình, mà lại là một mối tình “không xác định”. Phải chăng nhờ có cảm xúc từ một đêm trăng đẹp để tác giả “tâm trạng” mà tức cảnh sinh tình, nẩy ra ý tứ.

“Ta nghe có tiếng trăng rơi
phải chăng trăng cũng như người mộng du”

          Rõ ràng anh chàng trong bài thơ này vì đang say tình mà trở nên ngu ngơ, đờ đẫn. Ai chẳng biết trăng sáng là một hiện tượng tự nhiên, nhưng hiện tượng tự nhiên nào khi được nhuốm tình người với cái chất nhân văn, lãng mạn thì cũng sẽ được tô thêm màu sắc mới, thậm chí còn có khi nghe được cả âm thanh. Nói cách khác thì tự thân của một đêm trăng, dù trăng sáng hay trăng lu cũng chẳng nói lên điều gì - nếu nó không được gắn với tâm trạng, nỗi niềm của thi sĩ. Trong Truyện Kiều, đại thi hào Nguyễn Du cũng đưa tình cảm của nhân vật gắn vào cảnh sắc thiên nhiên như:

“Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu
Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ”.

          Ở “Tiếng Trăng”, LXH đã khéo mượn ánh trăng để bày tỏ tâm tình,  để bộc lộ cái khát vọng “đa đoan”. Song, ở đây dường như thông điệp vẫn còn đang vu vơ giữa thinh không, chưa xác định được địa chỉ của đối tượng. Đúng là vì có sự gợi cảm của ánh trăng nên mới tạo thành chất men tình, làm cho đối tượng của bài thơ nghe được cả “tiếng trăng rơi”. Trước đây trong một hoàn cảnh tương tự, cũng có kẻ đang say tình, trong một đêm trăng chập chờn tỉnh giấc đã bộc lộ nỗi lòng:

“ …Ta nằm nghe gió đêm thâu
Thì thầm bên gối những câu tâm tình
Trong mơ thấy bạn bên mình
Tỉnh mơ chỉ thấy trước mành trăng rơi!…”

Dẫu có khác với  LXH là chỉ nghe thấy tiếng trăng rơi - nghĩa là mới thông qua cảm giác tượng thanh, thì ở trường hợp này còn thấy  được cả “trăng rơi” qua cảm giác tượng hình... Nhưng xét cho cùng thì dù có nhìn thấy “trăng rơi” hay chỉ nghe thấy tiếng “trăng rơi” cũng đều là mơ mộng. Nói dại, nếu trăng mà rơi thật như hiện tượng thiên thạch rơi tự do vào trái đất thì có mà họa lớn!.

Xưa nay mọi cái được chiếu qua lăng kính của các thi nhân, cái gì cũng trở nên huyền ảo, có khi sự vô lý mới làm nên được chất trữ tình. Ví như câu ca dao sau đây:

“Đêm qua tát nước bên đình
Bỏ quên cái áo trên cành hoa sen…”
Có người bảo, biết đâu anh chàng kia bổ củi ở sau đình, rồi bỏ quên cái áo trên cành cây sung - như thế mới là thật. Vì cái áo dù có nhẹ đến cỡ nào cũng khó có thể vắt lên cành hoa sen được. Nhưng với thơ thì nó phải là tát nước, phải là cành hoa sen mới đượm chất lãng mạn, ai lại đưa động tác hùng hục của anh chàng bổ củi với cái cành sung sần sùi thô lỗ vào thơ ?.

Ở bài ca dao “Nụ tầm Xuân” cũng vậy, khi anh chàng si tình đã thốt ra thơ thì cũng phải có cái gì đó ngu ngơ, đờ đẫn. Anh ta trèo lên cây bưởi hái hoa, rồi từ cây bưởi tụt xuống vườn cà lúc nào cũng chẳng hay, lại tưởng chỉ một bước thôi mà đã xuống được vườn cà!. Nên mới nói:

“Trèo lên cây bưởi hái hoa
Bước xuống vườn cà hái nụ tầm xuân…”.

 Sự đãng trí si tình đến như vậy vẫn chưa phải là cùng. Chỉ vì cô người yêu đi lấy chồng mà làm chàng ta rối trí thất tình, chân tay lóng ngóng, làm gì cũng chẳng nhớ, mắt cũng mơ hồ, nên mới “nhìn gà hóa cuốc”:
“…Nụ tầm xuân nở ra xanh biếc;
Em đi lấy chồng anh tiếc lắm thay”.

Thực ra nụ tầm xuân thường chỉ có mầu trắng phớt hồng, chứ làm gì có nụ tầm xuân nào lại có mầu xanh biếc?. Thế mới biết cái men tình gớm thật, khi nó đã ngấm vào rồi, người bị ngấm men ấy lại thất tình nữa thì các giác quan đều trở nên đảo lộn.

Người đời xưa đã vậy thì người nay cũng vậy, trở lại với bài thơ “Tiếng trăng” của LXH ta mới thực sự cảm thông cùng tác giả. Không biết LXH nói về mình hay nói cho ai, nhưng trước một đêm trăng đẹp- ngắm trăng mà thiếu bóng tri nhân tri kỷ, thì “trăng rơi”, “trăng vỡ” cũng là lẽ thường tình.

Nhưng đến mấy khổ thơ sau, nỗi niềm của nhân vật trong Bài thơ không chỉ còn dừng lại ở nỗi buồn man mác của một kẻ si tình, mà hình như còn có chút thất tình. Giọng thơ trở nên có gì đó mỉa mai, hờn oán của một người bị tình phụ bạc. Cho nên Chữ tâm (mới) lỡ để héo khô; Ánh kim tiền dễ che mờ nhân gian”. Nói toạc ra thì cũng chỉ tại chữ “tham” mà nên tất cả. Lòng tham của con người là nguyên nhân cho mọi nguyên nhân sinh ra nỗi khổ ở đời. Tham đem đến bất hạnh cho mình, tham cũng đem đến nỗi buồn đau cho người khác. Chẳng thế mà trong triết lý “Diệt khổ” của Thích-Ca-Mâu-Ni là phải tận diệt “Tham, sân, si”- căn nguyên của “Bể khổ” ở đời. Từ cái triết lý này nên tác giả “Tiếng trăng” cũng đành dùng phép tự vấn an, phó mặc cho số trời. May mắn hơn là đã tìm đến lời Phật dậy, lấy “sắc sắc, không không” để an ủi nỗi lòng.

Người đời bảo, vì chưng dễ tính nên Trăng mới là kẻ vô tình bị lôi vào cuộc, luôn phải chứng kiến vô số những cuộc tình trái ngang, trắc trở. Nhưng xét cho cùng thì Trăng là vô can trước mọi nỗi buồn vui nhân thế. Phải vậy mà LXH đã để một cái kết có hậu cho “Tiếng Trăng” như sự phân bua đầy chính kiến:

Trăng soi bằng ánh ngời ngời
Vỡ ra thành tiếng khóc cười thế nhân...

Ta nghe có tiếng trăng ngân
Ánh vàng vụn giữa trầm luân đời người”.

Tựa như để thanh minh nỗi oan tình mà lâu nay “chị Hằng” phải gánh; âu cũng chỉ vì cái vẻ đẹp hững hờ mà Trăng luôn bị coi là tác nhân tạo nên nguyên cớ của người đời.
                                                                                                          

                                                                         Cả Mõ

                  

TIẾNG TRĂNG

Tác giả: Lê Xuân Hùng

Ta nghe có tiếng Trăng rơi
Phải chăng trăng cũng như người mộng du.
Ta nghe có tiếng Trăng ru
Đời ru nghiệt ngã, thơ ru bẽ bàng.
Tình ru sao lắm phũ phàng
Đò tình một chuyến.....người sang một đời.
   
 
Ta nghe có tiếng Trăng rơi
Ánh vàng vụn vỡ giữa trời trầm luân.
Ai đong đếm cả mùa xuân!
Ta ngu ngơ giữa bàn cân cuộc đời.
Biết là trong đục đầy vơi
Chẳng bão giông cũng lở bồi, hỡi sông!
   
 
Nào là sắc sắc không không
Lục căn chưa tịnh chẳng thông lẽ đời.
Sang hèn định sẵn số trời
Bon chen giành giật....thói đời đa đoan.
Nghe trong từng nỗi lo toan
Máu xương nhức nhối, tim gan rã rời.
   
 
Tiếng Trăng vụn vỡ tơi bời
Cõi hư vô chẳng thấy người hư vô!
Chữ Tâm lỡ để héo khô
Ánh kim tiền dễ che mờ nhân gian.
Rồi sao, bóng xế dương tàn
Ván thiên đậy cả cơ hàn, giàu sang!
   
 
Đất trời một cõi mênh mang
Đời người ai dễ nhênh nhang người đời.
Trăng soi bằng ánh ngời ngời
Vỡ ra thành tiếng khóc cười thế nhân...
   
 
Ta nghe có tiếng trăng ngân
Ánh vàng vụn giữa trầm luân đời người./.


                                                 LXH

                                                                Đảng ủy xã Trì Quang, Bảo Thăng, LC

27 tháng 11 2013

Phú: VĨNH BIỆT NÀNG ĐIẾU



                      Ô hô, ô hô!
                      ...Em Điếu ơi! Kể từ khi đôi ta "hương lửa" nấu nung,  
                     Tơ duyên say đắm, tưởng có lúc lăn đùng vào giữa bếp tro.
                      Quá say em, anh kheo khẳng cái cặp dò…
                      Heo may chớm thổi đã ho từng tràng.
                      Nhớ chăng em, lần đôi ta dấm dúi ở cạnh kho hàng
                      Mải say hương khói mà xuýt nữa để tàn tía, tàn vàng nó bốc lên cao.
                      Lại có hôm tập trận ở bên miệng chiến hào
                      Vì quăng “đầu mẩu” nên thần hỏa nó mới ào ào thiêu rụi cả đồi xanh.
                      Em Điếu ơi! Kể từ khi đôi ta duyên kết yến – oanh
                      Ngày dăm bữa anh phải ngồi “canh” toa lét.
                      Dù chẳng phải Tào hỏi thăm hay bệnh tình gì đặc biệt,
                      Chỉ bởi nội quy không được hút thuốc ở trong phòng.
                      Và mỗi khi đến những nơi hội họp - người đông,
                      Muốn có tí cùng em cũng không thể ngoài nơi ấy.
                      Ngẫm lại cuộc tình đôi ta, ngọt ngào đâu chẳng thấy,
                      Mà chỉ toàn nỗi bật hạnh triền miên.                                
                      Buồn cho cuộc tình nghiêng ngả, đảo điên…
                      Dìm hạnh phúc nơi “không tiền, khoáng hậu”.     
                 
                                                        *
                                                     *    *
Thuốc lào chồng hút, vợ say,
Chó con ngửi khói (cũng) nga quay ra nhà.

                       Cho nên:
                       Kể từ hôm nay anh quyết đưa em ra chôn chặt nơi xó hè,
                       Tám giờ vàn ngọc ta chẳng kè kè hút-hít tào lao.
                       Xin tấu cùng ông Tơ-bà Nguyệt ở tận chốn xanh cao:

                       Mối tình cùng Điếu, thôi, vái chào vĩnh biệt!.
                         
                                                                                             Cả Ngố

                       

16 tháng 11 2013

ĐỆ TỬ NHÀ ĐỀ LUẬN THƠ & "SẤM TRẠNG"


            Câu nói cửa miệng: “Chơi đề ra đê mà ở” nay như đã trở thành châm ngôn, vậy mà đội ngũ người chơi số đề vẫn không hề thuyên giảm. Có điều rất lạ là, ở đời không ai muốn bị gọi là ngu – nếu ai đó vì bực nhau mà trót rủa nhau một tiếng “ngu”, coi chừng, không bị đối phương thụi cho gãy răng thì cũng phải nhận những phản ứng không lấy gì làm tích cực.
            Duy chỉ có những người chơi số đề thì ai cũng không dưới một lần tự rủa mình là ngu!. Vì họ rất tin vào thơ đề, trạng đề. Mà thơ đề thì ai chẳng biết, đấy là một thứ thơ hổ lốn viết tay, chẳng ra khổ khiếu gì cả. Nó đã không có hồn đã đành, thậm chí còn bất chấp cả vần lẫn luật. Có lần đọc thử mấy khổ thơ đề, anh bạn tôi bảo:

            - Tớ là thằng đại dốt về thơ, nhưng phen này quyết về “sáng tác” thơ đề để bán. Vì thơ loại này mình có thể viết ra được cả tập chỉ trong vài giờ.
            Hôm ấy, trên đường đi công tác, ngồi ở quán nước, tôi được mục sở thị về chuyện dịch thơ đề. Một ông khách nọ trông bề ngoài có vẻ “công chức” lắm. Vỗ đùi đánh đét, ông khách ta nói với chủ quán:
            - Mình ngu quá, hôm qua “thơ nó” chỉ ra rồi mà không luận được!
            - “Nó” chỉ thế nào?- chị chủ quán hỏi.
            Ông ta đọc luôn:
            “ Trâu về thành phố trâu cười,
            Để cho ngàn kẻ, vạn người hỏi mua”
            Thế mà nó về đúng “con hai chín” có thánh không?. Vậy mà mình quá ngu, luận mãi không tính đến “nước” này!.
            Đến đây thì tôi phải chen vào một câu hỏi:
            - Hai câu thơ vừa rồi tôi thấy có liên quan gì đến con số 29 đâu?
            - Cậu này đúng là người “ngoại đạo”, chẳng hiểu gì cả - anh ta nói, rồi giải thích: Đây nhé, “hai chín” có phải biển số xe Hà Nội không?. Câu trên có từ “thành phố”, thế chẳng phải ám quẻ con số “hai chín” là gì?.
            Thấy anh ta đang say sưa với cái lí của thơ đề, tôi đành ngồi im, vì sợ tranh luận, không khéo lại bị gọi là “ngu”, hoặc rủi hơn không chừng còn ăn quả “liệu hồn”. Sau này tôi mới biết, hóa ra ông bạn đệ tử đề hôm ấy là một lái xe, mới được nghỉ “hưu non”.
            Còn Trạng đề, phần lớn người phát “trạng” thì không được là người bình thường. Có thể đó là một cậu bé mắc bệnh bại não hoặc một người đồng bóng, dở hơi, chứ tinh khôn thì đừng hòng mà thành được Trạng. Lần ấy ở xã T. tự nhiên đồn rầm lên là mới “nổi” Trạng đề. Người ta kéo đến xin “sấm” trạng đông lắm. Ở mãi trên thành phố tỉnh lỵ và thị trấn huyện, các bà, các cô “mắt xanh, mỏ đỏ” cứ lũ lượt kéo về xin lời “trạng” phán để đánh đề. Có dịp đi qua xã ấy, tôi đã ghé quán nước gần nhà “trạng”, lân la hỏi chuyện, được bà cụ chủ quán xởi lởi kể:
            -  Chú muốn biết à, thật may cho cái nhà L. ấy (L. là mẹ của Trạng), nó nghèo kiêt xác, may nhờ thằng cu dại “nổi trạng” mà lâu nay cũng được hưởng ít lộc.
            Tôi sốt ruột hỏi:
            - Nhưng có đúng thằng bé ấy phát trạng thật không hả cụ?
            Bà lão kín đáo nhổ miếng quyết trầu rồi chậm rãi trả lời:
            - Cũng chẳng biết, nó sinh ra đã ngẩn ngơ, đầu thì to, người thì nhỏ, cái mặt đần thối, đâu có giống người bình thường. Năm nay đã hơn mười tuổi rồi nhưng chẳng nói được câu nào rõ lời. Cái quần, cái áo còn chẳng tự mặc được. Cách đây hơn một năm, tự dưng bảo là nó “phán” thiêng lắm, cứ theo lời nó mà “đánh”, ối người “trúng” to. Thế là người khắp nơi cứ đổ về ùn ùn xin “sấm trạng”. Mỗi người đến xin “sấm” đều tự giác đặt “lễ” tùy tâm, rồi vái trạng để xin lời phán. Còn Trạng thì lèo bèo nói chẳng rõ câu cú gì cả. Có hôm bức xúc vì đông người đến quấy rầy, nó cùn lên chửi tục lung tung. Thì đấy, mọi người cứ bám vào mà “luận”, chứ Trạng đâu có phán rõ điều gì. Mà nói rõ ra rồi thì đâu còn là “sấm” trạng, phải không chú?.
            Hỏi vậy, nhưng chẳng đợi tôi trả lời, bà lão lại kể tiếp:
            - Ví dụ, nó bảo “về mà ăn cứt” thì luận ra: nhóm phân do, cứt đái ứng với số “không sáu” (06) chẳng hạn, thế là “đánh” không sáu. Nhưng cũng có hôm Trạng vừa ngủ dậy, mọi người đã bâu vào xin “sấm”, nó chẳng nói, chẳng rằng, bỏ ra đầu nhà vạch chim ra mà tè. Vậy là họ liền chạy theo, dòm vào đường vẽ loằng ngoằng trên mặt đất từ tia nước tiểu của thằng bé, mỗi người luận một kiểu, ai luận ra cái gì thì “đánh” theo cái đó.
            - Nhưng không không “trúng” thì sao?- tôi hỏi cắt ngang lời kể của bà cụ. Cụ cười, đáp:
            - Làm gì mà ai cũng trúng, trúng thế thì chủ đề có mà “bán xới” à?. Nhưng không sao, đánh không trúng là tại không biết luận”, chứ đâu phải tại Trạng. Thế mới ngu, phải không chú?.

            Đến đây thì tôi hiểu. Chỉ có điều tất cả những người đánh đề vẫn cứ tin vào thơ đề, trạng đề một cách cuồng tín, mà trong số họ không ít người là cán bộ, công chức, viên chức, nhà kinh doanh có trình độ cao ngất ngưởng hẳn hoi. Thế mới lạ!. 
                                                                                   Cả Mõ

13 tháng 11 2013

Vụ án tù oan 10 năm của ông Chấn: Họ "cắp ô" hay cắp "lưỡi hái"?

 TÁC GIẢ: DƯƠNG XUÂN THÀNH
Thứ tư 13/11/2013 07:36
(GDVN) - Hy vọng sau vụ xét xử hủy hai bản án của ông Chấn sẽ còn nhiều phiên tòa nữa liên quan đến những kẻ đang phủi tay chối tội, đang cố đùn đẩy sự vô lương tâm của mình cho người khác. Những con rùa rụt cổ, dù chết hay sống cũng phải được mang ra trước ánh sáng công lý.

Kiểu trưng biển cấm chẳng giống ai của TAND tỉnh Nghệ An

Ngày 6/11/2013, rất nhiều tờ báo đăng trang nhất các bài viết thể hiện nội dung: “Người bị tù oan 10 năm kể về đòn hiểm ép cung”. Trong nội dung bài báo có đoạn: “Theo như lời kể của ông Chấn, trong quá trình lấy lời khai, các điều tra viên này đã cầm dao, búa bắt ông Chấn nhận tội”. Báo Giáo dục Việt Nam ngày 7/11/2013 đăng bài của tác giả Viết Cường: “May mà ông trời có mắt”
Báo Pháp luật và Xã hội, cơ quan của Sở Tư pháp Hà Nội, ngày 28/3/2013 viết: “Điều mà người dân thấy khó hiểu là phía TAND tỉnh Nghệ An đã cho trưng biển hiệu cấm tất cả các đối tượng được tham dự phiên tòa mang điện thoại, máy ảnh, tư trang vào hội trường xét xử, kể cả…những nhà báo” [1].
Ba ví dụ nêu trên mới chỉ là cách nhìn nhận của một vài cá nhân và trang báo điện tử, Chắc chắn không thể thống kê hết những gì mà người dân và truyền thông đề cập tới hoạt động của các cơ quan bảo vệ và thực thi pháp luật.
Khi mà chính rất nhiều người đang làm việc ở trong ngành Tư pháp phải than phiền: “Kiểu trưng biển cấm chẳng giống ai của TAND tỉnh Nghệ An” thì người dân còn gì để nói?
Với 10 năm tù của ông Nguyễn Thanh Chấn, rồi đây những người liên đới sẽ phải trả lời, điều mà dư luận có thể dự đoán là họ sẽ phủ nhận các hành vi tra tấn (mà sự thực là mới đây họ đã đồng loạt phủ nhận), bức cung mà ông Chấn tố cáo bời không có chứng cứ, trừ những đơn thư của chính ông Chấn.
Không có chứng cứ, không thể kết tội đó là nói về phía pháp luật, còn dân gian người ta nói “ác giả, ác báo”. Nghe nói hai trong số những người liên quan đã bị tai nạn, một chết, một chấn thương sọ não, âu cũng là “trời xanh có mắt”. Những người còn lại dù có thoát khỏi sự trừng phạt của pháp luật, liệu có thoát sự trừng phạt của lương tâm, liệu có sống yên ổn đến lúc xế chiều?
Phó thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc nói có 30% công chức thuộc diện “cắp ô”, nếu chỉ như vậy thì người dân vẫn còn quá may mắn bởi lẽ mỗi người dân, mỗi gia đình chỉ bị “mất cắp” lưng cơm, miếng cá. Khi mà những công chức ấy, thay vì “cắp ô” lại mang “lưỡi hái’ thì nguy cơ mất cắp mạng sống của người dân mới là điều đáng nói. Nếu không có tình tiết giảm nhẹ (gia đình liệt sĩ) thì án mà ông Chấn phải nhận sẽ là tử hình và đến nay chắc gì đã được mồ yên mả đẹp?
Ngày xưa quan là “phụ mẫu’ của dân, ngày nay họ là “đầy tớ” của dân. Cái chữ “phụ mẫu” một mặt thể hiện sự hống hách, trịch thượng, sự khẳng định uy quyền của kẻ làm quan thời phong kiến, nhưng mặt khác lại cũng  ngầm răn dạy người làm quan phải hiểu nghĩa vụ của mình đối với dân chúng.

Bản năng tự nhiên của “phụ mẫu” là chăm sóc cho con cái, dành những gì tốt nhất cho con cái, vì thế mới có câu “hổ dữ không ăn thịt con”. Còn đầy tớ, nét đặc trưng thứ nhất là ít được học hành đến nơi đến chốn, nét đặc trương thứ hai khi nhận lời làm thuê là kiếm được nhiều tiền.

Với đặc điểm “tự nhiên” như thế, bao nhiêu “đầy tớ” sẽ trung thành với những ông chủ nghèo mà không bỏ đi tìm kẻ giàu hơn để phụng sự? Bao nhiêu “đầy tớ” mà chủ có thể tin tường giao phó chìa khóa khi vắng nhà? Xã hội ngày xưa có những đầy tớ như Yết Kiêu, Dã Tượng, tuyệt đối trung thành với chủ, vì họ là những “đầy tớ thật”, xã hội ngày nay “đầy tớ” sẵn sàng phá két chủ nhà, thậm chí ngồi trên đầu chủ nhà vì đó là các “đầy tớ rởm”.
TS. Nguyễn Sĩ Dũng nêu ý kiến: “Có vẻ như đầy tớ nào cũng có quyền, nhưng mỗi khi xảy ra sự cố, ít đầy tớ nào chịu đứng ra nhận trách nhiệm. Điều này đúng cho mọi chuyện - từ chuyện cây rừng bị chắt phá, đến chuyện thực phẩm bị nhiễm độc”[2].
Đầy tớ ăn cắp chỉ là chuyện nhỏ, một khi “đầy tớ” nhân danh công lý, dưới cái ô pháp luật, kề lười hái vào cổ chủ nhân thì xã hội sẽ là cái gì?
Phó Chủ nhiệm UB Tư pháp QH Nguyễn Đình Quyền ngày 6/11/2013 phát biểu: “Tất cả các cấp đều phải xem xét lại trách nhiệm của mình. Trách nhiệm liên quan đến hai yếu tố: quá tự tin và cẩu thả. Còn ở vụ này, năng lực yếu và trách nhiệm chưa cao” [3].
Được biết Văn phòng Chủ tịch nước đã có ý kiến, một số đại biểu Quốc hội đã lên tiếng, Bộ trưởng Công an cũng đã lên tiếng, mấy vị bên Kiểm sát thì đã họp báo, nhìn vào cầu vai của họ thấy ba sao (tức là tương đương thượng tướng đấy).

Chủ tọa phiên tòa ngày xưa cũng đã lên tiếng, Tuổitrẻ Online ngày 8/11/2013 dẫn lời ông Nguyễn Minh Năng: “Hồi xưa xét xử thì dựa trên chứng cứ, tài liệu vụ án, chứ giờ vụ án đã lâu không nhớ nổi. Giờ bị cáo bị oan sai thì trách nhiệm là do Quốc hội chứ biết sao được, tốt nhất là nhà báo đừng hỏi nữa”.

Vẫn trong bài báo trên ông Trần Văn Duyên nguyên thẩm phán phiên xét xử sơ thẩm năm 2004, nói: “Cấp phúc thẩm tuyên y án thì có nghĩa chúng tôi xử đúng rồi và chúng tôi cũng không có trách nhiệm gì, giờ vụ án có sai thì trách nhiệm thuộc về cấp phúc thẩm của tòa tối cao”.
Theo ý ông Quyền thì phải “xem xét” đến cấp nào, cấp nào là cấp “cẩu thả” nhất, sơ thẩm, phúc thẩm hay… “trên thẩm”?
Chỉ số công lý (Justice Index) 2012 do Hội Luật gia Việt Nam (VLA), Trung tâm Nghiên cứu phát triển và hỗ trợ cộng đồng (CECODES) và Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc (UNDP) phối hợp nghiên cứu. Kết quả công bố ngày 3/10/2013 cho thấy 42,4% số người dân được hỏi không biết hoặc chưa bao giờ nghe nói đến Hiến pháp.

Dân không biết đến Hiến pháp, pháp luật nghĩa là không biết quyền và nghĩa vụ của mình, nghĩa là khi cần thì dân tự xử, kể cả việc đó trái pháp luật (như việc đánh chết kẻ trộm chó). Một số người hiểu biết pháp luật thì lợi dụng sự thiếu hiểu biết của dân (như ông Chấn) để dạy họ cách cầm dao đâm người, dạy họ tập bê xác chết để có chứng cứ kết tội chính họ.
Càng biết, càng nói thì càng đau lòng, mong sao sẽ sớm đến ngày trong tay một số “đầy tớ” không còn lưỡi hái của tử thần, hãy trả “đầy tớ” về đúng vị trí của “đầy tớ”, hãy để cho "ông chủ" có quyền thuê "đầy tớ" và cũng có quyền tống khứ loại "đầy tớ" bất tài mà thừa tàn nhẫn ra khỏi nhà.

Không làm được như vậy, sẽ còn tiếp có án oan, sẽ còn tiếp những người vô tội mà số phận không được may mắn như ông Chấn. Nhân ngày Pháp luật nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (9/11 hàng năm) hy vọng sau vụ xét xử hủy bản án của ông Chấn sẽ còn nhiều phiên tòa nữa liên quan đến những kẻ đang phủi tay chối tội, đang cố đùn đẩy sự vô lương tâm của mình cho người khác. Những con rùa rụt cổ, dù chết hay sống cũng phải được mang ra trước ánh sáng công lý.

                                                                           Nguồn: Giáo dục Việt nam
                                                                                  http://giaoduc.net.vn