Cả Mõ

camoz77.blogspot.com/

31 tháng 3 2014

HỌC TẬP BÁC HỒ - TỪ LỜI NÓI ĐẾN VIỆC LÀM

Rút từ nội dung bài thi tìm hiểu Chỉ thị 03-CT/TW của Bộ Chính trị về tiếp tục đẩy mạnh
 việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh
                                                 Người viết bài: Mạnh Nguyên


   Sau hơn 4 năm thực hiện Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, năm 2011- theo đánh giá của Bộ Chính trị Khóa XI: “Cuộc vận động đã đạt được một số thành tựu bước đầu, góp phần vào công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội X của Đảng. Kết quả triển khai cuộc vận động đã khẳng định việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh là rất quan trọng và cần thiết, chẳng những đáp ứng yêu cầu cấp bách trước mắt mà còn có ý nghĩa cơ bản, lâu dài đối với sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân ta.” ([1])

Tại hội nghị cán bộ toàn quốc quán triệt, triển khai thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 về xây dựng Đảng (ngày 21/05/2012), Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng cũng thẳng thắn chỉ ra một trong những lý do Trung ương lại phải phải tiếp tục ra Nghị quyết về xây dựng Đảng. Đ/c nói: … “Bây giờ trong Đảng cũng có sự phân hóa giàu - nghèo, có những người giàu lên rất nhanh, cuộc sống cách xa người lao động; liệu rồi người giàu có nghĩ giống người nghèo không?...Thực tế đã có bộ phận suy thoái nghiêm trọng về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống” ([2]). Từ nhận định như vậy, Chỉ thị 03-CT/TW,  ngày 14/5/2011 của Bộ Chính trị (Khóa XI) là một yêu cầu cấp bách và có tầm quan trọng rất lớn trong công tác xây dựng Đảng hiện nay.

Cuộc thi tìm hiểu Chỉ thị 03-CT/TW do Tỉnh ủy Lào cai phát động được coi như một đợt sinh hoạt chính trị rộng lớn, vừa có ý nghĩa về lý luận, vừa mang tính thực tiễn. Cuộc thi còn là dịp để tất cả các cán bộ, đảng viên nghiên cứu kỹ hơn nữa về nội dung của Chỉ thị và các văn bản liên quan. Cuộc thi được thực hiện đúng yêu cầu sẽ làm cho mọi cán bộ, đảng viên và cả trong cả hệ thống chính trị quán triệt sâu sắc hơn các chủ trương của Đảng, nâng cao nhận thức tư tưởng; xác định rõ trách nhiệm đưa việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh thành hành động thực tiễn. Đây cũng là dịp để mọi tổ chức, cá nhân nhìn nhận lại quá trình phấn đấu, rèn luyện trong thời gian qua. Từ đó phát huy kết quả tích cực đã đạt được, đồng thời nhận rõ những khuyết điểm, yếu kém để khắc phục; đẩy mạnh hơn nữa tinh thần học tập và nghiên cứu các Chỉ thị, Nghị quyết của Đảng, nêu cao trách nhiệm gương mẫu, hành động thực tiễn của người đứng đầu và của cán bộ, đảng viên trước quần chúng. Tổ chức thực hiện tốt nội dung của Chỉ thị sẽ tạo ra động lực mới, làm chuyển biến mạnh mẽ và sâu rộng tinh thần tự giác tu dưỡng, rèn luyện, nâng cao đạo đức cách mạng, đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, cơ hội, thực dụng, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và các tệ nạn tham nhũng, tiêu cực, góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XI của Đảng.
Hội nghị ký cam kết tự giác đi đầu giữa người lãnh đạo chủ chốt, người đứng đầu
của Huyện ủy Bảo Thắng-tháng 11/2012

Từ ý nghĩa đó, ngày 07/11/2011 Thủ tướng Chính phủ cũng đã ban hành Chỉ thị số 1973/CT-TTg “Về việc tiếp tục đẩy mạnh học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”. Nội dung tổng quát của Chỉ thị là: Tập trung chỉ đạo, tiếp tục tổ chức thực hiện hiệu quả, đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh trong các bộ, ngành, cơ quan, đơn vị và địa phương theo đúng tinh thần Chỉ thị số 03-CT/TW ngày 14 tháng 5 năm 2011 của Bộ Chính trị, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ, sâu rộng hơn nữa trong việc tu dưỡng, rèn luyện, nâng cao đạo đức cách mạng, chất lượng, hiệu quả công tác, tạo sự thống nhất cao trong nhận thức và hành động, đưa việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh trở thành công việc thường xuyên hằng ngày của mỗi cơ quan, đơn vị, coi đó là trách nhiệm cụ thể, thiết thực của mỗi cá nhân, đơn vị thuộc bộ, ngành, địa phương mình. Trong đó có quy định rõ việc lãnh đạo, chỉ đạo đồng bộ, chặt chẽ, kết hợp việc tổ chức học tập, làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh với việc tổ chức triển khai các nhiệm vụ chính trị của đơn vị, đẩy mạnh cải cách hành chính, nâng cao hiệu quả mọi hoạt động, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, ngăn chặn và đẩy lùi tiêu cực, tham ô, tham nhũng trong đơn vị mình; tích cực đổi mới công tác quản lý nhà nước, quy định rõ trách nhiệm gương mẫu của cán bộ lãnh đạo chủ chốt và người đứng đầu. Quy định rõ nhiệm vụ của các bộ, các cấp chính quyền trong công tác tổ chức, vận động toàn xã hội học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức của Bác Hồ. Chỉ đạo giải quyết dứt điểm những bức xúc nảy sinh ở ngành, địa phương mình, nhất là những vấn đề liên quan đến đạo đức, trách nhiệm của công chức ở các đơn vị trực thuộc.

Thường trực Huyện ủy trao bản ký cam kết cho bí thư các chi, đảng bộ cơ sở

Ở tỉnh Lào Cai, từ tỉnh, huyện đến cơ sở và chi bộ đều đã được triển khai việc xây dựng và thực hiện chuẩn mực đạo đức theo yêu cầu của Chỉ thị 03-CT/TW. Cụ thể là, sau khi có các văn bản hướng dẫn của cấp trên, các chi bộ đã triển khai việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh đến từng đảng viên và các đoàn thể chính trị xã hội. Trong đó chủ yếu là việc thực hành làm theo, với việc làm cụ thể của từng cán bộ đảng viên. Xây dựng tiêu chuẩn cho vị trí công tác của từng người - đặc biệt là trách nhiệm của người đứng đầu. Từ đó có đăng ký phấn đấu cho mỗi đảng viên, gắn với quá trình công tác, rèn luyện. Định kỳ đánh giá lồng vào việc kiểm điểm đánh giá thường kỳ của chi bộ và đảng viên trên cơ sở của nội dung đã đăng ký của từng người.

Việc đưa  nội dung học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh theo Hướng dẫn số 09-HD/BTCTW cũng đã được cấp ủy quán triệt và áp dụng vào sinh hoạt của chi bộ. Từ đó đã cải tiến và nâng cao được hiệu quả, chất lượng sinh hoạt của chi bộ, đảm bảo sinh hoạt ngắn gọn, trọng tâm, trọng điểm; khắc phục được tính hình thức, tính chiếu lệ, cũng như tình trạng dài dòng, tản mạn trong sinh hoạt.

Tuy nhiên, xét về tổng thể, việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh là việc làm không dễ - nếu điều đó được gắn chặt với hành động, việc làm của từng đảng viên, nhất là những cán bộ đảng viên có chức, có quyền. Hiện nay trong dư luận vẫn còn ý kiến cho rằng, khẩu hiệu được trưng lên về hành động như: “Cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư”; “mỗi cán bộ đảng viên phải nói lời nói của dân, thở hơi thở của dân” hoặc “chống thái độ vô cảm...”.v.v và v.v. thì ở đâu cũng có. Đáng tiếc rằng, hiện tượng tiêu cực, cửa quyền, cơ chế "xin cho", rồi hành vi tham nhũng thông qua các lĩnh vực nhạy cảm như đất đai, xây dựng, tuyển sinh, tuyển dụng, luân chuyển, chuyển đổi vị trí công tác, bổ nhiệm cán bộ, thậm chí cả trong công tác thi đua khen thưởng… thì ngày càng tinh vi, làm cho công tác chống tham nhũng càng trở nên phức tạp, kém hiệu quả. Đây là những vấn đề vẫn đang là nỗi bức xúc trong dư luận, làm ảnh hưởng đến niềm tin của nhân dân vào đội ngũ được gọi là công bộc của họ.

Để làm tốt nội dung trên, ngoài sự nỗ lực củng cố tổ chức Đảng cùng với  việc chỉnh đốn tác phong, lề lối làm việc, sinh hoạt, thì tổ chức Đảng cần chú ý hơn đến việc lắng nghe ý kiến nhân dân thông qua nhiều kênh. Đối với chính quyền, nên cải tiến công tác tiếp xúc cử tri để mọi người dân đều có thể phản ánh được với đại diện của họ, không nên tiếp xúc theo kiểu chỉ gặp “đại cử tri” như hiện nay. Cần tiếp tục cho khôi phục lại hội đồng nhân dân cấp huyện và cấp phường, vì đây là một trong những thiết chế thực hiện quyền dân chủ của người dân trong xây dựng chính quyền. Các cơ quan, đơn vị thường xuyên va chạm với nhân dân thì người đứng đầu nên có đường dây “nóng” hoặc địa chỉ Email công khai cho nhân dân phản ánh những bức xúc của họ. Trong các cuộc họp nói chung, nên dành nhiều thời gian nghe cấp dưới nói, tránh tình trạng người chủ trì thì nói quá nhiều, quá dài chiếm hết cả dung lượng của hội nghị; việc thảo luận góp ý của cấp dưới, của cơ sở lại chỉ là hình thức, bàn bạc xuôi chiều, không chấp nhận ý kiến phản biện...  

 Mặc dù nội dung các quy định về nêu gương của cán bộ, đảng viên đã được Ban Bí thư Trung ương Đảng quy định cụ thể tại Quy định số 101-QĐ/TW, ngày 07/6/2012 về “Trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp”. Cũng với nội dung này, Tỉnh ủy Lào Cai đã ban hành Quy định số 08-QĐ/TU, ngày 22/12/2011 về một số "Tự giác đi đầu, gương mẫu của cán bộ lãnh đạo chủ chốt, đứng đầu các cấp trong việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh". Hướng dẫn thực hiện các Quy định trên, ngày 06/01/2012 bộ phận giúp việc của Tỉnh ủy còn ban hành Hướng dẫn số 06-HD/BPGV, nhằm giúp cho các tổ chức cơ sở đảng, chính quyền, đoàn thể triển khai thực hiện. Từ những hướng dẫn của cấp trên, Huyện ủy Bảo Thắng đã ban hành Công văn số 44-CV/HU, ngày 07/12/2011 “V/v bổ sung và tổ chức thực hiện  chuẩn mực đạo đức Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nay”; Hướng dẫn số 10-HD/HU, ngày 21/10/2012 nhằm chi tiết hóa, cụ thể hóa giúp cho các cơ sở tổ chức thực hiện. Từ Huyện đến cơ sở và các chi bộ đều đã tổ chức ký cam kết thực hiện trách nhiệm của người đứng đầu; ký cam kết trách nhiệm của cán bộ, đảng viên trong việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Đó là cả một dãy quy trình để triển khai Chỉ thị của Trung ương, thiết nghĩ như vậy là quá đủ.

Song, để thực hiện tốt các nội dung đã đăng ký, ngoài trách nhiệm kiểm điểm định kỳ đối với từng cán bộ, đảng viên, cũng cần tham khảo góp ý của cấp dưới, của các đơn vị phụ thuộc và đặc biệt là dư luận quần chúng – trong đó có ý kiến đóng góp của những cá nhân, tổ chức có quyền lợi liên quan đến trách nhiệm mà cán bộ, đảng viên và người đứng đầu, nhằm giúp cho cán bộ đảng viên này nhận rõ ưu, khuyết điểm mà rèn luyện, khắc phục.

Thêm vào đó, Trung ương còn ban hành Quy định về công tác kiểm tra của cấp ủy đối với cán bộ đảng viên trong thực hành tu dưỡng, rèn luyện đạo đức theo tư tưởng, tấm gương đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh là nằm trong thiết chế lãnh đạo, qua đó nhằm đánh giá thực chất được quá trình rèn luyện của đảng viên, khắc phục tính hình thức, tính giáo điều. Có thể coi đây là công cụ hữu hiệu để phát huy hiệu quả của việc học tập, làm theo tấm gương đạo đức Bác Hồ, đồng thời khắc phục những khuyết điểm, yếu kém để xây dựng Đảng ta ngày càng trong sạch, vững mạnh. Củng cố niềm tin của nhân dân đối với tổ chức đảng và đảng viên.

Thực tế cho thấy việc kiểm tra vẫn phảng phất đâu đó tính hình thức, quá coi trọng kiến thức học thuộc về lý thuyết theo kiểu “Tầm chương trích cú” mà chưa coi trọng thực tiễn hành vi, việc làm của mỗi cán bộ, đảng viên. Đặc biệt là lắng nghe những phản ánh bức xúc của quần chúng đối với mỗi đảng viên được kiểm tra. Có không ít cán bộ, đảng viên nói thì hay, nhưng làm thì rất dở. Luôn miệng nói là học tập tấm gương đạo đức của Bác, nhưng trong hành động thì gia trưởng, quan cách, cửa quyền, coi thường cấp dưới, không thích nghe ý kiến trái chiều; thái độ ban ơn cho quần chúng bằng cách “của người, phúc ta” cũng không phải là tác phong học tập Bác. Lại cũng có tình trạng chỉ vẽ việc cho cấp dưới làm, còn cấp mình thì đủng đỉnh bỏ qua. Trong báo cáo, thường là vấn đề yếu kém, hạn chế luôn là thuộc về cấp dưới và ý thức của quần chúng nhân dân, còn với cấp viết báo cáo thì có chăng cũng chỉ tại "khách quan" đem lại. Để kiểm tra vấn đề này, nên chăng, người kiểm tra không chỉ nghe đối tượng kiểm tra trình bày mà cần nghe ý kiến của cấp dưới và quần chúng phản ánh mới thực sự khách quan.

Dù sao cuộc thi này cũng phần nào giúp cho mỗi đảng viên có điều kiện xem lại toàn bộ yêu cầu nhiệm vụ học tập và làm theo tấm gương đạo đức của Bác, thấy được những việc mình đã làm được và những việc còn làm chưa tốt, chưa làm được để tiếp tục phấn đấu. Đây cũng là dịp để mọi người hệ thống lại nội dung, phương pháp rèn luyện; dịp đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục cho cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức về ý nghĩa to lớn của học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh trong xây dựng Đảng; trong xây dựng đạo đức, lối sống lành mạnh cho mọi thành viên của xã hội, đáp ứng yêu cầu xây dựng con người mới Xã hội Chủ nghĩa./.

                                                                                     Phố Lu, ngày 28/3/2014

                                                                             


[1] . Chỉ thị 03-CT/TW, ngày 14/5/2011 của Bộ chính trị TW Đảng CSVN khóa XI.
[2] . Phát biểu của Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng tại hội nghị Toàn quốc quán triệt, triển khai Nghị quyết TW 4

05 tháng 3 2014

NGÀY XUÂN NGỒI NHỚ TÓC DÀI



Trong bài thơ "Chân quê" của Nguyễn Bính, nhân vật của bài thơ đã từng hờn giận bạn tình, chỉ vì đi ra tỉnh, nhiễm cái "tân tiến" mà "bay" đi mất ít nhiều "hương đồng gió nội". Sự luyến tiếc ấy có người cho là đáng trân trọng, vì thể hiện được tinh thần gìn giữ bản sắc truyền thống. Nhưng lại có ý kiến ngược lại, cho rằng như vậy là bảo thủ.
Tương tự với quan điểm này, Chử Văn Long cũng tỏ ra luyến tiếc mái tóc dài truyền thống của chị em. Cho nên "Ngày Xuân ngồi nhớ tóc dài" và "Chân quê" dù là 2 bài thơ của 2 tác giả (phái nam)  ở 2 thế hệ khác nhau, nhưng đều có chung một quan điểm là không chấp nhận những cải cách quá cực đoan của phái đẹp.
Ngạn ngữ có câu: "Cái răng cái tóc là vóc con người", bởi vậy sự thay đổi mái tóc của chị em ngày nay, theo tác giả bài thơ đã là sự quá đà, vượt ngưỡng.
Không biết có ai phản biện nữa không, để Chử Văn Long cũng lại bị xếp vào tư tưởng bảo thủ về thẩm mỹ?. 

HỊCH NỮ GIỚI

Bài hịch cấm đàn ông đọc ngày 8/3
Một bài hịch “hiệu triệu” vui giúp chị em đứng lên giành vị thế, nhưng lại do một đấng “mày râu đích thực” chấp bút nên, đủ biết tinh thần ưu ái của anh em cho “phe địch” trong dịp 8/3 này dâng cao đến chừng nào!

(Vô cùng cáo lỗi cùng nguyên tác)
Cùng các bạn nữ của Đài, nhân ngày Báo chí Cách Mạng Việt Nam-21/6/2012

1. Ta thường nghe:  Trưng Nữ Vương phất cờ khởi nghĩa để trả nợ nước thù chồng, Triệu Trinh Nương muốn cưỡi sóng chém cá kình ở biển Đông. Bùi Thị Xuân, một bề tôi của Quang Trung, dẫu cho tứ mã phanh thây quyết không khuất phục. Từ xưa những bậc trung thần liệt nữ hy sinh vì nghĩa đời nào không có. Giả sử các bậc đó cứ khư khư theo thói nữ nhi thường tình, thì cũng đến chết già nơi xó… bếp, sao có thể lưu danh sử sách, khiến cho bao nhiêu đấng nam nhi phải thẹn với trời đất được.
 
Các ngươi chỉ chăm phim Hàn, không hiểu văn nghĩa, nghe những chuyện ấy nửa tin nửa ngờ. Thôi những chuyện xưa ta không kể, chỉ kể những chuyện trong thế kỷ XX: Marie Curie đã phải sống trong trong phòng thí nghiệm mấy chục năm trời để giành giải Nobel đầu tiên cho phái nữ. Võ Thị Sáu đứng trước họng súng kẻ thù còn ngắt một bông hoa cài lên mái tóc. Ngô Thị Tuyển đã lấy sức mạnh từ đâu để vác hai hòm đạn nặng gần một tạ trên đất lửa Hàm Rồng những năm đánh Mỹ. Thật là: “Anh hùng đâu cứ phải mày râu”.

2. Huống chi: Ta cùng các ngươi, sinh ra gặp thời bình đẳng, lớn lên giữa buổi tự do. Ngó thấy đàn ông ngồi uống bia mỗi chiều để trốn việc nhà, cậy nam nhi đại trượng phu chỉ lo việc lớn để phó thác việc tề gia. Thác mệnh Khổng Tử mà đòi “tam tòng tứ đức”, giả hiệu Adam mà đòi xương sườn thứ bảy. Thật chẳng khác nào “sư tử Hà Đông” mà phải ngồi nhìn giang sơn chìm đắm!

Ta thường tới bữa quên… soi gương, nửa đêm quên đánh phấn, mặt nhăn da cóc, mái tóc rối mù. Chỉ căm tức rằng chưa được thoả chí tang bồng, dọc ngang trời đất. Làm được những việc ấy thì dẫu cho trăm thân ta bọc trong da lợn, ngàn xác ta phơi ngoài bãi biển ta cũng nguyện xin làm.

Các ngươi được ta “dụ dỗ” đã lâu ngày: không có áo mặc thì ta cho… ở vậy, không có eo thon thì ta cho đi thẩm mĩ, tóc mì tôm thì ta cho ép thành mì ống, da dẻ xù xì thì đã có spa… Cách đối đãi ấy so với người xưa cũng chẳng kém gì.

Nay các ngươi nhìn thấy ngày suy tàn của hơn 3 tỉ người mà không biết lo, thấy giới mình bị lừa gạt mà không biết thẹn. Phận má thắm môi đào mà không biết giữ, nghe nhạc nước ngoài rồi mê mấy gã tóc vàng, râu rậm, mắt xếch ở tận trời Tây mà không thấy quê. Hoặc lấy việc yêu đương làm trò đùa, hoặc lấy việc hẹn hò chát chít trên mạng làm tiêu khiển. Hoặc vui thú nơi vũ trường, hoặc quyến luyến đàn ông, hoặc tham phú quý giàu sang mà quên lễ nghĩa, hoặc mê tán gẫu buôn dưa lê mà sao nhãng việc công, hoặc thích bọn đẹp trai, hoặc mê xe đẹp.

Nếu có Đông Gioăng, Sở Khanh mò sang thì má thắm môi hồng không ru ngủ được chúng, kinh nghiệm trong tình trường không thể làm mưu lược để lừa trai. Dẫu rằng sắc nước hương trời, tấm thân quý ngàn vàng khôn chuộc. Lúc bấy giờ ta và các ngươi sẽ bị chúng nó lừa, đau xót biết chừng nào? Chẳng những nhan sắc của ta bị vùi dập, bị xuống dốc như xe không phanh mà mắt phượng mày ngài của các ngươi cũng bị lồi ra như mắt phù thủy. Chẳng những đức hạnh của ta không còn mà thương hiệu của các ngươi cũng bị mất giá như chơi. Chẳng những thân xác thịt da của ta xù xì như da cóc mà sự đằm thắm dịu dàng của các ngươi cũng chẳng vẹn nguyên.

4. Nay ta bảo thật các ngươi nên lấy câu “người phụ nữ là kiệt tác của hóa công” làm nguy cơ, nên lấy điều “thân em như hạt mưa sa” làm răn sợ. Tích lũy tri thức vượt mặt nam nhi khiến cho người nào cũng giỏi như Marie Curie, chị em nào cũng đẹp như nàng Kiều tái thế, để có thể bêu đầu gã Đông Joăng John Terry ở London, làm bẽ mặt Ashley Cole ở Stamford Bridge…

Như vậy chẳng những cái quý giá nhất của đời ta vẫn vững bền mà cả “kho vàng” của các ngươi cũng không bị đánh cắp. Chẳng những nhan sắc của ta được đại tu hoàn chỉnh mà thương hiệu đàn bà của giới chúng ta cũng được nâng lên. Chẳng những người yêu thương của chúng ta hết lời ca tụng mà đàn ông trên thế gian này đều muốn quỳ gối làm nô lệ đến suốt trăm năm. Đến lúc đó các ngươi muốn vui vẻ nhảy múa, phỏng có ngại gì!

5. Nay ta chọn trong kho tàng kinh điển của nữ gia hợp thành một quyển gọi là “Thời đại nữ nhân”. Nếu các ngươi nghe ta chịu đọc sách này thì mới xứng là “kiệt tác của hóa công”, nhược bằng khinh bỏ sách này, làm trái lời ta thì cũng chỉ là phường… đàn bà từ nhà xuống bếp.

Vì sao vậy? Đàn ông với đàn bà là hai thái cực của hóa công. Thói đời âm thịnh thì dương suy và ngược lại. Vì thế nếu các ngươi không chuyên tâm dùi mài kinh sử, đại tu nhan sắc thì chẳng khác nào đang vô tình biến những con thiên nga xinh đẹp trở thành những mụ vịt trời ngờ nghệch xấu xí, thành những con nai vàng ngơ ngác, sớm muộn rồi cũng sập bẫy thợ săn. Vậy rồi nếu mai đây “kiệt tác của hóa công” chẳng may sứt mẻ, lúc đó ta và các ngươi còn mặt mũi nào mà son với phấn, mà hờn với dỗi nữa.

Ta viết bài hịch này để… mua vui trong dịp tháng Ba ngày Tám, nhưng ta phải nói nhỏ rằng: Đọc xong hịch, các ngươi không được "tiết lộ thiên cơ" với cánh mày râu. Họ mà biết, thì mưu lược khổng lồ của ta và các ngươi sẽ bị chết yểu ngay từ ngày... 7.3 đó.


03 tháng 3 2014

HỊCH ĐÀN ÔNG


Viết cho dịp đón ngày 8/3 

Ta thường nghe: Ở xứ Bắc khi xưa có ông vua chi ra nghìn vàng chỉ vì nụ cười của người đẹp.
Ở xứ Tây có anh chàng thuê cả phi đội bay, lượn trên bầu trời nhà cô gái mà anh ta thầm nhớ, trộm yêu.
Với đội hình xếp thành chữ Love;
Còn ở xứ ta, lại có kẻ vơ vét của công đem cống cho gái bao, mặc dù biết vành móng ngựa đang chờ phía trước. Từ xưa đến nay, đàn ông chúng ta phải chi "tình phí" giá cao thì đời nào chẳng có?

Lại nghe: Có anh ca sĩ lợi dụng fan hâm mộ để lừa cả tình lẫn tiền của người ta; có kẻ mê rượu chè, cờ bạc đến nỗi bỏ vợ con nheo nhóc, nhà cửa tan hoang như điếm canh đê; và cũng không ít người quá ham mê công việc đến nỗi sao nhãng việc nhà, quên trách nhiệm với vợ, với con. Chuyện phụ nữ bị "phụ" nay vẫn còn đâu có hiếm?
Đáng giận hơn hơn, vẫn còn kẻ cậy thế “Tòng quyền”, cứ rượu vào là mạt sát người thân toàn những lời cay độc; mượn hơi men để “dạy”  vợ bằng cùi chỏ, nắm tay!. Những kẻ ấy há chẳng được cái đức của Chí Phèo, bởi anh Chí có mượn rượu cũng là để đấu với phường ác bá. Còn với tình yêu, dù là Thị Nở, Chí vẫn cọi như đẹp nhất trần đời.
Chúng ta, đến bữa được ăn, nửa đêm ôm gối 37 độ, được chăm chút từ tóc đến chân, vậy mà vẫn có người tự cho mình là thiệt thòi này nọ, so bì vợ với người ta ngoài đường. Anh em đâu có biết, phụ nữ ngoài đường khi về nhà cũng tất tả nào khác vợ mình, chứ đâu còn gọn gàng, nhẹ nhàng thong dong như khi họ đi dạo phố?
Lũ chúng ta, không có áo thì vợ mua áo; không có tiền thì vợ cho... tiền lẻ tiêu vặt; lúc say xỉn thì vợ dìu vào phòng thay quần áo, cạo gió và khuyến mãi một ít... cằn nhằn; nhà có việc thì vợ chia sẻ; lúc nhàn hạ thì cùng nhau nô đùa... So với Thiên Đàng nào có khác?
Thế nhưng có người suốt đời không tặng quà cho vợ, dù uống  dăm vại bia cũng có giá bằng chục bông hoa mà không thấy nghẹn; nhìn thấy vợ đẹp không khen, chỉ khen diễn viên Hàn mà chẳng ngượng mồm; đi làm về, vợ ngập đầu với công việc bếp núc, chồng lại khoắc vợt dài đi nhảy sếch với cầu lông mà chẳng thẹn lòng. Hãy thử nghĩ xem, nếu bất chợt vợ ta biến mất thì bia liệu có thay được cơm ngon, canh ngọt; diễn viên Hàn có ôm ta mỗi tối và cầu lông có cùng tay ta đi dạo phố được chăng?
Nay, xin bảo thật anh em: nên lấy việc "Vợ giận bỏ về ngoại" mà làm nguy; nhớ lấy câu "Kính vợ đắc thọ" làm tôn chỉ; tích cực hơn trong giúp vợ việc nhà và đừng tiếc lời khen. Lúc bấy giờ anh em ta có muốn vui chơi, bia bọt một tí chắc cũng không đên nỗi?
Khi tôi viết bài này, anh em nào nhạy cảm chắc sẽ rõ bụng tôi... đang đói. Mà hễ bụng đói thì anh em mình lại nghĩ đến vợ yêu!.

                                                                                                                      Không rõ tác giả            
                                                                                                                      (Có biên tập lại)

19 tháng 2 2014

ĐOẠN KẾT TRANG NHẬT KÝ

( Trích Hồi âm của T.M gửi H.T)
Lời biên tập: Xin lỗi tác giả vì bài quá dài nên chỉ
trích đăng 4 đoạn ở Blog này.

                                                         "...Em đeo kính lão đọc thư anh
                                                        Qua thư em hiểu được ngọn ngành
                                                        Không phải tình ta xa cách quá
                                                        Mà do tất cả tại chiến tranh...
                                                               ...Bạn bè thường bảo cự ly gần
                                                               Thế nào chúng nó cũng nên xuân
                                                               Đôi mươi hai đứa tràn nhựa sống
                                                               Sao vẫn hững hờ chẳng chút thân...
                                                      ...Mãi đến năm năm sau giải phóng
                                                      Binh đoàn về đóng ở Tây Nguyên
                                                      Đau xé lòng em anh có biết
                                                      Khi nhận tin anh "ván đóng thuyền"...
                                                                ... Hai lăm năm rồi em lại viết
                                                                Mấy dòng ngắn ngủi để gửi anh
                                                                Tình duyên dang dở thôi đành vậy
                                                                Đâu phải tại anh, tại chiến tranh!..."
                                                                                                   T.M

CĂN NHÀ TẬP THỂ

Lời của Tác giả: Tôi có mối tình thời hoa lửa, mời các bạn cùng đọc
 để có thêm cái nhìn về cuộc chiến tranh chống Mỹ
(Gửi tặng T.M)


Áo dài (minh họa)
Phòng nàng ở cạnh phòng tôi
Cách nhau có bức tường vôi bạc màu
Tôi sang với ngọn đèn dầu
Cùng nàng ngồi học chụm đầu tới khuya
Giải toán trừ, cộng, nhân , chia
Làm văn bài luận Ngòi Thia, Phố Ràng
Đêm đêm đèn sách cùng nàng
Cự ly, cường độ ngày càng bén duyên
Với tôi nàng đẹp như tiên
Là cô y tá vừa chuyên vừa hồng
*
Tôi mơ ước được làm chồng
Và nàng là vợ tơ lòng cùng xe
Tường vôi quét lại vôi ve
Vách ngăn dỡ bỏ, sân hè dùng chung
Nàng sang không phải thẹn thùng
Bữa cơm đạm bạc thổi cùng một niêu
Tiền lương tôi có bao nhiêu
Đưa cho nàng quản chi tiêu hằng ngày
Đêm đêm trực chiến máy bay
Có bát cháo nóng từ tay nàng làm
Tuổi xuân sức lực căng tràn
Tình yêu chắp cánh cho nàng và tôi
Ngời ngời hạnh phúc lứa đôi
Căn phòng ấm cúng tường vôi màu hồng
*
Nhưng khi chợt tỉnh giấc nồng
Phòng riêng tôi vẫn nằm không suông tình
Có nàng như bóng với hình
Vắng nàng thui thủi một mình sớm trưa
Tường vôi lại bạc hơn xưa
Cùng tôi ngày tháng nắng mưa dãi dầu
Nàng ơi nàng chuyển đi đâu
Sao không nỡ nói một câu dặn dò
Để tôi lỡ mất chuyến đò
Lỡ luôn cả tuổi học trò mộng mơ
*
Mai sau dù đến bao giờ 
Căn nhà tập thể vẫn chờ nàng sang.
                                                           N.H.T

18 tháng 2 2014

ĐÔI ĐIỀU VỀ VĂN HÓA MẠNG


Có thể nói máy tính nối mạng Internet là một thành tựu rất đáng tự hào của loài người. Nhờ có mạng Internet mà thế giới như được thu nhỏ lại, con người thân thiện với nhau hơn. Vì vậy, nếu việc sử dụng mạng Internet để phục vụ cho đời sống đúng với tính nhân văn của nó thì hạnh phúc biết nhường nào. Tuy nhiên, mọi thứ đều khó hạn chế được mặt trái, nếu bản thân đối tượng sử dụng nó còn chưa đạt được một chuẩn mực văn hóa nhất định.
         
Ảnh chỉ có mục đích minh họa
Cùng với việc nối mạng Internet toàn cầu, tiện ích từ những chiếc máy tính đã đem lại biết bao nhiêu thành quả hết sức là vĩ đại. Máy tính kết nối mạng Internet đã đưa khả năng truyền thông tiếp cận được với một lượng lớn khán giả, thính giả, đọc giả. Ngày nay trên thế giới có đến hàng tỷ người sử dụng Internet mỗi ngày. Tài liệu truyền thông từ Internet có thể được tải về rồi tiếp tục truyền đi và chia sẻ thông qua các phương tiện truyền thông khác nhau. Đó không chỉ là các phương tiện truyền thông chính thống mà còn được phát tán trên cả các trang mạng xã hội… Cho nên sức ảnh hưởng của nó vừa nhanh, vừa rộng rãi, nhưng cũng không có được một quy chuẩn nhất định nào. Có thể tón tắt về thành tựu truyền thông trên Internet như sau:
Thứ nhất là, có thể trao đổi, chia sẻ cho nhau từ văn bản đến âm thanh và hình ảnh.
Thứ hai là, việc tìm kiếm trên mạng toàn cầu đã đạt đến mức cực nhanh. Trong nhiều trường hợp, tìm một tài liệu trên mạng còn nhanh hơn tìm một địa chỉ trong cuốn niên giám điện thoại.
          Song, mặt trái - mặt tiêu cực từ những chiếc máy tính nối mạng Internet cũng tạo nên nhiều bất lợi rất nghiêm trọng cho cuộc sống. Ở đây chỉ xin được đề cập đến  hai mặt tiêu cực trong phạm vi nhất định, đó là máy tính-games và mạng xã hội từ các dịch vụ Internet.
Theo các chuyên gia về công nghệ thông tin thì trong các nhóm game trên mạng máy tính, thực tế chỉ có một tỷ lệ rất nhỏ là mang tính giáo dục, còn lại là những trò chơi ăn thua, mạo hiểm và những hành động tàn bạo “ảo”. Đối với những hành vi nguy hiểm, bạo lực trên game, nếu là với người lớn thì có thể phân biệt được thật, giả, nhưng với trẻ em thì dễ dàng bị chi phối giữa “xã hội ảo” với đời sống thực. Bởi vậy đã có không ít những vụ án mạng do trẻ vị thành niên gây nên cũng chỉ bởi ảnh hưởng từ các trò chơi bạo lực trên mạng. Về sức khỏe đối với trẻ em, các nhà y khoa cũng đã cảnh báo, ngồi trước máy tính hàng giờ rất có hại cho mắt của trẻ, nhịp tim sẽ bị thay đổi nhanh hơn bình thường - đặc biệt là khi tiếp xúc với các trò chơi game nguy hiểm, bạo lực thì còn gây nên những xáo trộn về hệ thần kinh của các em.
Mặc dù Internet là nơi cung cấp một nguồn tài nguyên vô tận về tri thức. Nhưng các nhà giáo dục cũng không khuyến khích dùng Internet cho học sinh bậc học phổ thông, vì kiến thức phổ thông không mang tính kinh điển, không cần phải cập nhật hóa từng ngày, từng tháng, từng năm, mà học sinh có thể tra cứu bằng các phương tiện rẻ tiền hơn. Mặt khác, việc lang thang trên mạng, các em có thể nhìn thấy những hình ảnh xấu, những tuyên truyền bạo lực, thù hận chủng tộc, tôn giáo, sự cổ vũ cho lối sống thiếu lành mạnh và những hệ tư tưởng lệch chuẩn. Rất nhiều học sinh thức thâu đêm không phải để học mà là  để (chat), tán dóc, nói chuyện gẫu, đấu láo với những em khác trên thế giới. Thực tế đã có không ít trường hợp bị lừa tình, bị lừa đưa đi bán…Riêng về phương diện giáo dục ta nên biết, Internet là không có ai làm chủ cả. Các mạng thông tin (network) trên thế giới tự nối với nhau mà hình thành Internet. Vì vậy khi kết nối mạng, các hình ảnh, bài viết thiếu lành mạnh cho dù không tự nhiên xuất hiện, nhưng nếu muốn thì việc tìm kiếm cũng không khó, các em vẫn có thể biết cách vào được những chỗ này.
Lại nói về các trang mạng xã hội, trong đó có các Blog cá nhân và facebook… được phát triển tự do, miễn phí trên dịch vụ mạng. Không thể phủ nhận mặt tích cực của nhiều mạng xã hội là đưa thông tin rộng, nhanh và tham gia tích cực vào các diễn đàn khoa học, diễn đàn văn hóa, kinh tế, xã hội. Nhưng cũng vì tính tự do, không có sự quản lý và người chịu trách nhiệm cho nên ở đây bộc lộ rất nhiều những hạt sạn, thậm chí là những sản phẩm văn hóa cặn bã, rác rưởi được coi như những liều thuốc kịch độc cho hệ tư tưởng và tâm - sinh lý. Chỉ nói đến văn hóa giao tiếp thôi ta đã có thể tìm ra khá nhiều những “lỗi hệ thống”, làm méo mó và mất đi tính trong sáng của ngôn ngữ. dưới đây xin được trích một đoạn ngôn ngữ của cư dân mạng tuổi “tin”, nay có nhiều người đã trên độ tuổi này cũng vẫn bị tiêm nhiễm. Một cư dân mạng kể rằng, “Sáng nay mình ngủ dậy và quyết định học kiểu chát của thanh niên Việt Nam. Mình đã thay chữ Ô bằng chữ U, nhưng chỉ trong một số trường hợp đặc biệt “thui”. Như vậy lối viết của mình xem ra sẽ “nhẹ” hơn, “dễ chịu” hơn…Chắc các bạn hiểu ý của mình “rùi”!. Trong một số trường hợp khác, mình lại bỏ hẳn chữ Ô ra, nếu viết quá chuẩn thì văn của mình như có vẻ nặng nề…Vì vậy mình không “mún” làm cho mọi người “bùn”. Không chỉ riêng nguyên âm, đôi khi phụ âm cũng bị bỏ ra, ví dụ như chư N là “mụt” trong “nhữg” “Nghi phạm” nổi bật nhất. “Nhưg” chưa “xog” đâu vì còn nhiều chữ khác nữa như trường hợp chữ H ở cuối và chữ K ở đầu đối với phụ âm kép. Thật “kin khủg” đúng “hông”?. Phải nói là còn rất nhiều kiểu bỏ chữ và thêm chữ mới. Sau đây là mấy dòng chát khá điển hình:
“Mìn sẽ bắt đầu tập trung vào việc viết tắt (vt). Bh~ n`ng noi” gr vt wá n` k tốt lém. Nhưg thui-vđề khôg fai là vt co” tốt h k, vđề la fai vt ntn!!!.” Hoặc “Xe khô jau  hÔg co ja tRi j đÂu!! Hu hu!! nhÌn mụt đoạn tHì hoA hít cả Mắt…”
Lại có chỗ (chat) bằng chữ không có dấu thanh, người đọc luận ra thế nào mặc kệ. Ví như đoạn tin nhắn sau đây: "Em hoi cho ah rui, o day chi ban long lon chu khog ban long chim!"
Không những thế, trên mấy trang facebook, các cư dân mạng của chúng ta còn choảng nhau bằng vô số ngôn từ thô thiển, tục tĩu, đến người đọc còn phải phát ngượng. Có thể ở ngoài đời họ không giám tung ra những ngôn từ này, vì dù sao cũng phải trưng cái mặt ra cho thiên hạ nhìn thấy. Nhưng sự giao tiếp trên mạng căn bản đều là ảo cả cho nên mặc đời!. Có không ít nickname với những cái tên ảo, ảnh ảo, thế là người ta cứ thoải mái tung “chưởng” vô văn hóa lên vô tư mà chẳng sợ ai nhìn thẳng vào cái mặt của mình.
Thế mới biết sự dấu mặt ở đây cũng là điều kiện để tạo nên những chí phèo hiện đại!.
Hy vọng rằng, với những thang giá trị về văn hóa, việc sử dụng một công cụ được coi là thành quả vĩ đại của loài người thì tuổi trẻ cần biết tránh xa những hạt sạn, những sản phẩm văn hóa độc hại để gìn giữ được bản sắc và giá trị vĩnh hằng của nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc. Góp phần làm đẹp thêm cho tương của dân tộc Việt Nam./.

                                                                                       Mạnh Nguyên   

05 tháng 2 2014

CÔNG ĐỨC ĐẦU NĂM

Trước tượng Quan Âm tỏ lòng thành
Ít thì tờ đỏ, lớn tờ xanh
Ngoài kia nghi ngút lò thiêu mã
Trong nọ nghi ngơ vái nhiệt thành
Dăm đồng cung tiến làm công đức
Vạn mối khẩn cầu kiếm lợi danh
Ruột sung có khác chi lòng vả
Ai bảo rằng ai chẳng vị mình!
                                 Cả Mõ (Xuân Giáp Ngọ)

01 tháng 2 2014

BẢO THẮNG MỪNG XUÂN - MỪNG ĐẢNG QUANG VINH (Tùy bút Xuân Giáp Ngọ)


          Nói tới Đảng Cộng Sản Việt Nam chúng ta thường liên tưởng tới mùa Xuân, bởi hơn 80 năm năm trước, sự ra đời của Đảng cũng đúng vào giữa tiết Xuân, sự trùng hợp ngẫu nhiên này tựa như có sắp đặt của tạo hóa. Lịch sử đã ghi nhận, Đảng ra đời còn đồng nghĩa với sự hồi sinh của dân tộc Việt Nam. Từ thi hứng về Đảng với mùa Xuân, nhà thơ Tố Hữu trong “Bài ca mùa Xuân 1961 đã viết:
“…Dã từ năm cũ bâng khuâng
Đã nghe xuân mới lâng lâng lạ thường”

“…Có gì đẹp trên đời hơn thế
Người với người sống để yêu nhau
Đảng ta cho trái tin giàu
Thẳng lưng mà bước, ngẩng đầu mà bay!”
          Lời thơ còn khẳng định, đời vui đó do Đảng ta mang lại, là ánh sáng soi đường cho dân tộc đứng lên, giành lấy tự do, hạnh phúc, hòa bình…Rồi không biết từ khi nào, hai tiếng “Đảng Ta” đã được người dân Việt Nam dùng như một danh từ riêng; một tên gọi thay cho tên chính đảng (đảng Lao Động Việt Nam-nay là đảng Cộng Sản Việt Nam) với một tình cảm gần gũi đến thân thương! Đây là hiện tượng chỉ có một, không hai trên thế giới. Điều này đã chứng minh, mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân ta không chỉ là mối quan hệ lãnh đạo mà còn là mối quan hệ máu thịt. Là người sáng lập và rèn luyện Đảng ta, theo chủ tịch Hồ Chí Minh “Trong mọi giai đoạn Cách mạng, quyền lợi của giai cấp Công nhân, của nhân dân lao động và của dân tộc là thống nhất, cho nên nó phải là đảng của dân tộc Việt Nam”.
          Kể từ khi có Đảng, đảng Cộng Sản Việt Nam đã trở thành linh hồn của Dân tộc. Đảng dẫn đường, chỉ lối để nhân dân ta chiến thắng mọi kẻ thù, từng bước vượt qua lạc hậu đói nghèo để xây dựng môt nước Việt Nam hòa bình, độc lập, đang nhanh chóng đi đến mục tiêu “ Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bàng, văn minh, vững bước đi lên Chủ nghĩa Xã hội”.
          Trong không khí từng bừng kỷ niệm 84 mùa Xuân của Đảng, chúng ta lại có dịp tự hào nhìn lại thành quả của sự nghiếp đổi mới do Đảng Cộng Sản Việt Nam đề xướng và lãnh đạo. Đó là những thành tựu phát triển thật vĩ đại mà Nghi quyết Đại hội XI của Đảng đã khẳng định: … “Diện mạo của đất nước có nhiều thay đổi. Thế và lực của nước ta vững mạnh thêm nhiều; vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế được nâng lên, tạo ra những tiền đề quan trọng để đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân”.
          Mặc dù vậy, cùng với những cơ hội mới, trước mắt chúng ta cũng còn không ít thử thách, khó khăn. Song dưới sự lãnh đạo của một Đảng đã dày dạn kinh nghiệm, với nhân dân có truyền thống yêu nước nồng nàn và có lòng tự tôn dân tộc, chúng ta có quyền tin tưởng rằng, nhân dân ta sẽ tiếp tục đoàn kết một lòng xung quanh Đảng, kiên quyết đẩy lùi thách thức, chiếm lĩnh cơ hội để đưa đất nước ta vươn lên trên con đường Cách mạng mà Đảng ta và Bác Hồ đã lựa chọn.
          Là một bộ phân cấu thành của đại gia đình các dân tộc Việt Nam, Đảng bộ, Chính quyền và nhân dân các dân tộc huyện Bảo Thắng cũng đang trên bước đường hòa nhịp cùng với dòng chảy của đất nước. Chúng ta vừa đi hết nửa chặng đường của quá trình thực hiện Nghị quyết đại hội Đảng bộ huyện lần thứ XXVI, nhiều mục tiêu kinh tế-xã hội đã đạt và vượt kế hoạch đề ra, tăng trưởng kinh tế phát triển đúng đinh hướng, thu nhập bình quân đến cuối năm 2013 đạt gần gấp đôi đầu nhiệm kỳ. Đây thực sự là động lực đề tiếp tục thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội với mục tiêu tổng quát là: “Duy trì và phát triển kinh tế với tốc độ tăng trưởng nhanh và bền vững; kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế với quốc phòng-an ninh, nâng cao chất lượng và sức chiến đấu của tổ chức cơ sở Đảng, xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa truyền thống, không ngừng nâng cao đời sống tinh thần, vật chất cho nhân dân”. Trên cơ sở cụ thể hóa nghị quyết của Đại hội bằng 6 Chương trình, 14 Đề án và 9 Kế hoạch trọng tâm. Đưa Bảo Thắng vươn lên xứng đáng là huyện trong điểm về Nông - Công nghiệp của tỉnh Lào Cai. Trong suốt nửa nhiệm kỳ, thông qua các hoạt động hướng về cơ sở, quan hệ giữa Đảng, Chính quyền với nhân dân ngày càng thêm gắn bó.Các đồng chí lãnh đạo Huyện ủy, UBND và các ngành, các đoàn thể đã thường xuyến đến với đồng bào vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn để nắm bắt tâm tư, nguyện vọng của bà con; đối thoại trực tiếp với các tầng lớp nhân dân để thấy được bức xúc, khó khăn, nhằm kịp thời tháo gỡ, đáp ứng yêu cầu của đồng bào là một nét đổi mới đáng ghi nhận.
          Tự hào từ quê hương giàu truyền thống Cách mạng; người dân có đức tính cần cù, sáng tạo, 17 dân tộc anh em trên địa bàn  Huyện đã và đang lập nên nhiều kỳ tích mới, ứng dụng thành công nhiều thành tựu khoa học vào sản xuất, hình thành nhiều mô hình chuyên canh, thâm canh, chuyển giao kỹ thuật mới, chuyển dịch cơ cấu cây trồng vật nuôi…Thực hiện chuyển dịch cơ cấu ngành từ nông nghiệp sang công nghiếp và dịch vụ. Hằng năm đã tạo thêm hàng ngàn việc làm mới, làm cho đời sống nhân dân không ngừng được cải thiện. Những sự kiện nổi bật trong năm 2013 - năm bản lề của kế hoạch 5 năm 2011-2015 đã khẳng định sự phát triển của Huyện là bền vững. Qua sơ kết giữa nhiệm kỳ của Đại hội XXVI cho thấy, phần lớn các chỉ tiêu chính đều đạt và vượt mục tiêu của Đại hội; chiến thắng thiên tai, dịch bệnh trên cây trồng vật nuôi, đảm bảo sản lượng nông nghiệp không ngừng tăng cao; các chỉ tiêu về công nghiệp, thu ngân sách, xây dựng cơ bản đều có mức tăng cao - đặc biệt, năm 2013 còn là năm chỉ tiêu thu ngân sách đạt mức cao nhất từ trước tới nay, vượt tới trên 140% kế hoạch dự toán.    
          Mùa xuân này trên  khắp các nẻo đường, từ thành thị đến nông thôn, sắc hoa xuân càng thêm rực rỡ, hòa quyện cùng các sắc màu của lễ hội. Từ các thị trấn, thị tứ đến những bản đồng bào Mông, đồng bào Dao trên núi cao, bài hát ca ngợi Đảng lại vang lên tràn đầy nhựa sống. Đó là tiếng lòng của người dân nói lên lòng ơn Đảng, khẳng định niềm tin yêu với Đảng quang vinh. Với tinh thần “Thiên lý mã” - Giáp Ngọ (2014) – năm xác định là vị trí “tăng tốc”, sẽ được Đảng bộ và nhân dân các dân tộc huyện Nhà phấn đấu đẩy nhanh tiến độ, nhằm tiếp tục hoàn thành và hoàn thành vượt mức các mục tiêu của Đại hội.

                                                                                          Cả Mõ
                                              Xu©n Gi¸p Ngä - 2014






27 tháng 1 2014

CÂU ĐÔI MỪNG XUÂN GIÁP NGỌ-2014

1. Tặng mấy anh vì nghèo mà sợ tết: 
Đêm Ba mươi công nợ rối quanh thân, nông nỗi này mấy ngàn năm hãy Tết!; 
Sớm mùng một rượu uống say bí bét, cứ đã này mỗi tháng một lần Xuân!"
Áo dài

2. Tặng những kẻ sợ già:
Năm cũ qua đi vui vẻ mừng thêm Thọ!; 
Tuổi mới đến rồi buồn tình nỗi tiêu Xuân!

Hoa Xuân

20 tháng 12 2013

CẢM NHẬN KHI ĐỌC BÀI THƠ “TIẾNG TRĂNG” CỦA LXH

              GPDD có gửi cho Mõ bài thơ này, nói là của tác giả LXH và có xin góp ý (sửa). Tiếc rằng Mõ này lại dốt về làm thơ nên không giám sửa. Mạn phép, xin được bình mấy lời như sau:


        “Tiếng trăng” của LXH là một bài thơ trữ tình, nói đúng hơn là một bài thơ tình khá hay và độc đáo. Tác giả đã mượn hình tượng “chị Hằng” làm đối tượng để dãi bày nỗi niềm riêng cho một kẻ đang say tình, mà lại là một mối tình “không xác định”. Phải chăng nhờ có cảm xúc từ một đêm trăng đẹp để tác giả “tâm trạng” mà tức cảnh sinh tình, nẩy ra ý tứ.

“Ta nghe có tiếng trăng rơi
phải chăng trăng cũng như người mộng du”

          Rõ ràng anh chàng trong bài thơ này vì đang say tình mà trở nên ngu ngơ, đờ đẫn. Ai chẳng biết trăng sáng là một hiện tượng tự nhiên, nhưng hiện tượng tự nhiên nào khi được nhuốm tình người với cái chất nhân văn, lãng mạn thì cũng sẽ được tô thêm màu sắc mới, thậm chí còn có khi nghe được cả âm thanh. Nói cách khác thì tự thân của một đêm trăng, dù trăng sáng hay trăng lu cũng chẳng nói lên điều gì - nếu nó không được gắn với tâm trạng, nỗi niềm của thi sĩ. Trong Truyện Kiều, đại thi hào Nguyễn Du cũng đưa tình cảm của nhân vật gắn vào cảnh sắc thiên nhiên như:

“Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu
Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ”.

          Ở “Tiếng Trăng”, LXH đã khéo mượn ánh trăng để bày tỏ tâm tình,  để bộc lộ cái khát vọng “đa đoan”. Song, ở đây dường như thông điệp vẫn còn đang vu vơ giữa thinh không, chưa xác định được địa chỉ của đối tượng. Đúng là vì có sự gợi cảm của ánh trăng nên mới tạo thành chất men tình, làm cho đối tượng của bài thơ nghe được cả “tiếng trăng rơi”. Trước đây trong một hoàn cảnh tương tự, cũng có kẻ đang say tình, trong một đêm trăng chập chờn tỉnh giấc đã bộc lộ nỗi lòng:

“ …Ta nằm nghe gió đêm thâu
Thì thầm bên gối những câu tâm tình
Trong mơ thấy bạn bên mình
Tỉnh mơ chỉ thấy trước mành trăng rơi!…”

Dẫu có khác với  LXH là chỉ nghe thấy tiếng trăng rơi - nghĩa là mới thông qua cảm giác tượng thanh, thì ở trường hợp này còn thấy  được cả “trăng rơi” qua cảm giác tượng hình... Nhưng xét cho cùng thì dù có nhìn thấy “trăng rơi” hay chỉ nghe thấy tiếng “trăng rơi” cũng đều là mơ mộng. Nói dại, nếu trăng mà rơi thật như hiện tượng thiên thạch rơi tự do vào trái đất thì có mà họa lớn!.

Xưa nay mọi cái được chiếu qua lăng kính của các thi nhân, cái gì cũng trở nên huyền ảo, có khi sự vô lý mới làm nên được chất trữ tình. Ví như câu ca dao sau đây:

“Đêm qua tát nước bên đình
Bỏ quên cái áo trên cành hoa sen…”
Có người bảo, biết đâu anh chàng kia bổ củi ở sau đình, rồi bỏ quên cái áo trên cành cây sung - như thế mới là thật. Vì cái áo dù có nhẹ đến cỡ nào cũng khó có thể vắt lên cành hoa sen được. Nhưng với thơ thì nó phải là tát nước, phải là cành hoa sen mới đượm chất lãng mạn, ai lại đưa động tác hùng hục của anh chàng bổ củi với cái cành sung sần sùi thô lỗ vào thơ ?.

Ở bài ca dao “Nụ tầm Xuân” cũng vậy, khi anh chàng si tình đã thốt ra thơ thì cũng phải có cái gì đó ngu ngơ, đờ đẫn. Anh ta trèo lên cây bưởi hái hoa, rồi từ cây bưởi tụt xuống vườn cà lúc nào cũng chẳng hay, lại tưởng chỉ một bước thôi mà đã xuống được vườn cà!. Nên mới nói:

“Trèo lên cây bưởi hái hoa
Bước xuống vườn cà hái nụ tầm xuân…”.

 Sự đãng trí si tình đến như vậy vẫn chưa phải là cùng. Chỉ vì cô người yêu đi lấy chồng mà làm chàng ta rối trí thất tình, chân tay lóng ngóng, làm gì cũng chẳng nhớ, mắt cũng mơ hồ, nên mới “nhìn gà hóa cuốc”:
“…Nụ tầm xuân nở ra xanh biếc;
Em đi lấy chồng anh tiếc lắm thay”.

Thực ra nụ tầm xuân thường chỉ có mầu trắng phớt hồng, chứ làm gì có nụ tầm xuân nào lại có mầu xanh biếc?. Thế mới biết cái men tình gớm thật, khi nó đã ngấm vào rồi, người bị ngấm men ấy lại thất tình nữa thì các giác quan đều trở nên đảo lộn.

Người đời xưa đã vậy thì người nay cũng vậy, trở lại với bài thơ “Tiếng trăng” của LXH ta mới thực sự cảm thông cùng tác giả. Không biết LXH nói về mình hay nói cho ai, nhưng trước một đêm trăng đẹp- ngắm trăng mà thiếu bóng tri nhân tri kỷ, thì “trăng rơi”, “trăng vỡ” cũng là lẽ thường tình.

Nhưng đến mấy khổ thơ sau, nỗi niềm của nhân vật trong Bài thơ không chỉ còn dừng lại ở nỗi buồn man mác của một kẻ si tình, mà hình như còn có chút thất tình. Giọng thơ trở nên có gì đó mỉa mai, hờn oán của một người bị tình phụ bạc. Cho nên Chữ tâm (mới) lỡ để héo khô; Ánh kim tiền dễ che mờ nhân gian”. Nói toạc ra thì cũng chỉ tại chữ “tham” mà nên tất cả. Lòng tham của con người là nguyên nhân cho mọi nguyên nhân sinh ra nỗi khổ ở đời. Tham đem đến bất hạnh cho mình, tham cũng đem đến nỗi buồn đau cho người khác. Chẳng thế mà trong triết lý “Diệt khổ” của Thích-Ca-Mâu-Ni là phải tận diệt “Tham, sân, si”- căn nguyên của “Bể khổ” ở đời. Từ cái triết lý này nên tác giả “Tiếng trăng” cũng đành dùng phép tự vấn an, phó mặc cho số trời. May mắn hơn là đã tìm đến lời Phật dậy, lấy “sắc sắc, không không” để an ủi nỗi lòng.

Người đời bảo, vì chưng dễ tính nên Trăng mới là kẻ vô tình bị lôi vào cuộc, luôn phải chứng kiến vô số những cuộc tình trái ngang, trắc trở. Nhưng xét cho cùng thì Trăng là vô can trước mọi nỗi buồn vui nhân thế. Phải vậy mà LXH đã để một cái kết có hậu cho “Tiếng Trăng” như sự phân bua đầy chính kiến:

Trăng soi bằng ánh ngời ngời
Vỡ ra thành tiếng khóc cười thế nhân...

Ta nghe có tiếng trăng ngân
Ánh vàng vụn giữa trầm luân đời người”.

Tựa như để thanh minh nỗi oan tình mà lâu nay “chị Hằng” phải gánh; âu cũng chỉ vì cái vẻ đẹp hững hờ mà Trăng luôn bị coi là tác nhân tạo nên nguyên cớ của người đời.
                                                                                                          

                                                                         Cả Mõ