Cả Mõ

camoz77.blogspot.com/

09 tháng 12 2017

NHỮNG VI PHẠM "RẤ NGHIÊM TRỌNG" CỦA ÔNG ĐINH LA THĂNG

Thời gian lãnh đạo Tập đoàn Dầu khí Việt Nam, ông Đinh La Thăng đã có những sai phạm trong quản lý tài sản công dẫn tới thất thoát lớn.

Ông Đinh La Thăng (Tại Nghị trường Quốc Hội)
Chiều 8/12, tại Hà Nội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XIV đã họp phiên bất thường, thông qua hai nghị quyết với sự đồng thuận của tất cả Ủy viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội, về việc cho thôi đại biểu Quốc hội đối với ông Đinh La Thăng, nguyên Chủ tịch Hội đồng quản trị (sau này là Hội đồng thành viên) Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam (PVN).
Trước đó, Hội nghị Trung ương lần thứ 5 (ngày 7/5) thông báo quyết định thi hành kỷ luật cảnh cáo và cho thôi chức Ủy viên Bộ Chính trị với ông Đinh La Thăng (Bí thư Thành ủy TP HCM) vì có nhiều vi phạm "rất nghiêm trọng".
Theo báo cáo trình Bộ Chính trị và Ban chấp hành Trung ương của Ủy ban Kiểm tra Trung ương ngày 27/4, Ban thường vụ Đảng ủy Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PVN) giai đoạn 2009-2015 thiếu trách nhiệm trong lãnh đạo, chỉ đạo, buông lỏng công tác kiểm tra, giám sát, quản lý tổ chức đảng, đảng viên dẫn đến nhiều khoản đầu tư của Tập đoàn bị tổn thất, khó thu hồi với tổng số tiền rất lớn.
 Là Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch Hội đồng thành viên PVN từ 2009 đến 2011 nên ông Đinh La Thăng phải chịu trách nhiệm người đứng đầu về những sai phạm của PVN trong giai đoạn này.
Kết luận của Ủy ban Kiểm tra cho hay, ông Thăng đã ký ban hành Nghị quyết số 233 dẫn đến việc Ban tổng giám đốc Tập đoàn và các đơn vị thành viên chỉ định nhiều gói thầu trái pháp luật.
Ông Thăng cũng vi phạm quy chế làm việc khi ký thỏa thuận tham gia góp vốn tại văn bản số 6934 ngày 18/09/2008, giữa ông Đinh La Thăng, Chủ tịch Hội đồng quản trị PVN và Chủ tịch Hội đồng quản trị OceanBank. Nội dung văn bản thể hiện Tập đoàn tham gia góp vốn 20% trở lên; cử cán bộ tham gia quản trị, điều hành; đề nghị các đơn vị thành viên sử dụng dịch vụ của OceanBank, trước khi Hội đồng quản trị Tập đoàn họp thống nhất nội dung trên.
Ông Đinh La Thăng còn chịu trách nhiệm trong việc ban hành Nghị quyết số 4266 góp vốn vượt mức quy định vào OceanBank, trái quy định của Luật các tổ chức tín dụng, gây thiệt hại rất nghiêm trọng cho PVN.
Cựu Chủ tịch PVN cũng chịu trách nhiệm trong việc ban hành một số nghị quyết, quyết định chỉ định nhiều gói thầu với tổng giá trị lớn, vi phạm các nghị định của Chính phủ; tham mưu Thủ tướng cho chỉ định nhiều gói thầu không đảm bảo quy định của pháp luật.
Theo Ủy ban Kiểm tra Trung ương, ông Đinh La Thăng đã chấp thuận cho Tổng công ty xây lắp dầu khí (PVC) thuộc PVN được miễn bảo lãnh thực hiện hợp đồng với công trình, dự án do Tập đoàn chỉ định và chấp thuận cho Tổng công ty cổ phần dịch vụ kỹ thuật dầu khí (PTSC) được miễn bảo lãnh thực hiện hợp đồng thiết kế, mua sắm, xây dựng (EPC) Nhà máy nhiên liệu sinh học Dung Quất, vi phạm Luật đấu thầu năm 2005.
Ông Đinh La Thăng có trách nhiệm trong việc ban hành chủ trương, quyết định đầu tư phân tán, dàn trải; thiếu kiểm tra, giám sát quá trình triển khai các dự án ở thời kỳ ông làm lãnh đạo Tập đoàn, dẫn đến hiệu quả đầu tư thấp; một số dự án phải dừng, giãn, hoãn tiến độ, thua lỗ kéo dài, gây thất thoát, lãng phí, mất vốn đầu tư, gây hậu quả rất nghiêm trọng (trong đó có Dự án Nhà máy sản xuất xơ sợi Polyester Đình Vũ và các dự án nhiên liệu sinh học).
Cho rằng những vi phạm của ông Đinh La Thăng là "rất nghiêm trọng, gây bức xúc trong cán bộ, đảng viên và nhân dân", Ban chấp hành Trung ương Đảng đã bỏ phiếu với tỷ lệ 90% đồng ý kỷ luật cảnh cáo và cho thôi giữ chức Ủy viên Bộ Chính trị khoá XII.
                                                                               Theo báo Thời Đại

29 tháng 11 2017

BÀN THÊM VỀ NHỮNG PHÁT KIẾN VÔ BỔ

             Nhân sự kiện đề nghị thay đổi bảng chữ cái tiếng Việt của PGS-TS Bùi Hiền. Tôi nhớ lại, cách đây hơn 20 năm (Vào khoảng năm 1994) cũng có một cuộc bàn luận khá sôi nổi trên báo Khoa học& Đời sống về vấn đề này.
           Ngày đó, một người có tên Trần Ngọc Sánh (Việt kiều ở Pháp) viết thư về nước đề nghị sửa lại chữ Quốc ngữ. Theo ông ta thì chữ Quốc ngữ có nhiều điểm bất hợp lý như, dùng nhiều phụ âm ghép; phụ âm trùng như: tr, ch, ph; k, c... Nguyên âm trùng như y, i và nhiều dấu (thanh) rắc rối. Nội dung đề xuất của ông này là thay đổi bảng chữ cái theo cách thay thế một số phụ âm ghép bằng phụ âm đơn, bỏ chữ đ thay bằng chữ d, còn chữ d lại thay bằng chữ z...; các dấu thanh thì thay bằng chữ, gần giống như đánh máy chữ trên bàn phím máy tính bây giờ. Kết cục là văn bản viết theo đề xuất của tác giả này tòi ra vô số cái vô lý, đáng kể nhất là con chữ càng rối hơn, viết thành văn bản thì khó mà dịch nổi. Việc đề xuất này sau một hồi thảo luận kéo dài đến 6 tháng trên Báo thì kết thúc. Trong đó có tới trên 95% bài thảo luận là phản đối việc cải cách chữ viết. Các ý kiến tập trung cho rằng, chúng ta cần tự hào vì có một loại chữ viết tiến bộ, hình thức đẹp, kí âm cơ bản được tiếng nói của dân tộc. Còn một vài nhược điểm nho nhỏ như cùng một phụ âm mà dùng đến 2 loại chữ cái như phụ âm K, phụ âm C thì các nước dùng chữ cái La tinh trước chúng ta như Pháp, Anh cũng không tránh khỏi. Thậm chí chữ Pháp còn có trường hợp một phụ âm, nhưng trong các điều kiện khác nhau có thể đọc biến âm, ví dụ: Chữ S đứng giữa 2 nguyên âm thì đọc như âm (Z); chữ C khi đứng sau nó là nguyên (i) thì đọc như âm (S) chẳng hạn. Chữ Quốc ngữ của ta cũng vậy, chữ K đọc như âm (C) chỉ trong trường hợp đứng sau nó là các nguyên âm (i), (e). Ngoài ra nó có vai trò kết hợp với phụ âm (h) để biến đổi thành phụ âm khác. Đó là nguyên tắc chính tả của mỗi nước. Khi nguyên tắc đó đã ổn định thì tốt nhất là không nên thay đổi.
            Cuối cùng Tòa soạn đã đưa ra kết luận, cần giữ nguyên bảng chữ cái và cách viết như hiện tại.
            Đến nay, sau hơn 20 năm chúng ta lại được chứng kiến dư luận xã hội rộ lên vì một đề xuất về cải cách chữ viết. Đề xuất lần này là của một nhà khoa học về ngôn ngữ hẳn hoi, nhưng xem ra cũng chẳng hợp lý - nếu không nói là hết sức vô lý và lợi bất cập hại. Bởi vậy việc đề xuất cải cách chữ viết lần này cũng vừa mới manh nha đã bị  dư luận "ném đá" không thương tiếc.

            Thiển nghĩ, chữ viết trước hết là một tài sản văn hóa phi vật thể của một quốc gia dân tộc. Chữ Quốc ngữ của ta đang dùng là loại chữ ký tự, để kí âm âm tiết của tiếng Việt. Bảng chữ cái La tinh từ khi được các giáo sĩ phương Tây sử dụng làm phương tiện phiên âm cho mục đích truyền giáo tại các nước châu Á. Nhưng chỉ có Việt Nam là được tiếp nhận, chuyển hóa thành Quốc ngữ. Người được nhắc đến nhiều nhất trong quá trình sử dụng chữ cái La tinh để phiên âm tiếng Việt là giáo sĩ Alexandre de Rhodes. Thực chất là ông đã dùng nó để truyền Đạo vào Việt Nam. Sau này với quá trình đóng góp điều chỉnh của công chúng, dần đã hình thành bảng chữ cái Quốc ngữ để thay thế cho chữ Nôm, chữ Hán vì nó thuận tiện cho phiên âm quốc tê. Từ khi chính thức vào nước ta, các chữ cái La tinh cũng đã trải qua hàng thế kỷ điều chỉnh mới trở thành bảng chữ cái Quốc ngữ Việt Nam để hoàn thiện cách ghép vần và nguyên tắc viết chính tả ổn định như ngày nay. Với bảng chữ cái hiện tại, chúng ta có thể tự hào là đã được xếp ngang hàng với chữ của các nước tiến bộ trên thế giới. Bản thân nó cũng đã làm tròn bổn phận ký âm cho toàn bộ âm tiết của tiếng Việt và thể hiện được đầy đủ các cung bậc tình cảm. Như vậy, liệu có cần thiết phải cải cách?.

            Đánh giá vai trò của chữ Quốc ngữ tại "Hội thảo khoa học: Chữ Quốc ngữ-sự hình thành, phát triển và những đóng góp vào văn hóa Việt Nam" tại Tuy Hòa, Phú Yên (tháng 10-2015) đã thống nhất nhận định "...sự phát triển của chữ quốc ngữ một phần là do nó phù hợp với lịch sử, nhưng phần khác lớn hơn là do tính ưu việt so với các hình thức chữ có trước đó tại Việt Nam. Nếu trước đó với loại chữ Hán, chữ Nôm - một loại chữ rất khó học - dân Việt Nam có đến 98% người mù chữ, thì nay với chữ quốc ngữ tình thế đã hoàn toàn đảo ngược lại, tức số người biết chữ là 98% và số người mù chữ chỉ bằng số người biết chữ thời bấy giờ".

            Những năm gân đây, không riêng chữ Quốc ngữ, chúng ta đã quá mệt mỏi về những đề xuất cải cách mà cuối cùng không những không đem lại hiệu quả tiến bộ, thậm chí còn để lại những hệ lụy tai hại. Ví dụ, vào đầu thập kỷ 80 của thế kỷ trước, người ta định thay đổi Quốc ca. Cuộc vận động sáng tác Quốc ca được phát động khá rầm rộ, Nhà nước thành lập cả một hội đồng xét chọn. Nhưng cuối cùng, rất may là nhân dân không chấp nhận. Tưởng điều ấy đã làm nên bài học, vậy mà vài năm sau người ta lại nghĩ ra cải tiến chữ viết, bắt tất cả học sinh lớp một viết một loại chữ "cắt móc" (tương tự như chữ in). Loại chữ này vừa vụn, vừa khó coi, khi viết còn liên tục phải nhấc bút làm cho tộc độ ghi chậm lại. Tiếp nữa là cho học sinh lớp một học chữ e trước tiên, thay vì chữ a trong bảng chữ cái như truyền thống. Các cuộc cải cách này cũng tự nhiên chết yểu mà không cần khai tử.

            Gần đây ngành giáo dục vẫn được xếp vào đội ngũ tiên phong của các cải tiến và cải cách, gây nên không biết bao nhiêu tranh luận, thậm chí có lúc đại biểu Quốc hội cũng phải than trước nghị trường rằng, "Xin các ngài đừng lấy con em chúng tôi ra làm chuột bạch nữa!". Vậy mà phong trào cải tiến, cải cách vẫn tiếp tục nở rộ như hoa cúc dại giữa mùa thu!.

         Vẫn biết đổi mới là nhu cầu không thể thiếu, nhằm đáp ứng cho sự phát triển của xã hội. Tuy nhiên, cải cách, cải tiến thì cái sau phải tiến bộ hơn cái trước; cái mới phải văn minh hơn cái cũ. Muốn vậy, sáng kiến cải tiến phải thực sự khoa học; phải được thận trọng thẩm định trước khi áp dụng vào thực tiễn đời sống. Tuyệt đối không thể cứ nghĩ ra cái mới, rồi chủ quan cho là hay, cưỡng ép thực hiện đại trà, hỏng thì lại sửa. Cung cách làm ăn như vậy chẳng những không làm cho xã hội phát triển mà ngược lại còn phá hoại cả tiến trình phát triển của xã hội.

            Hiện nay đất nước còn biết bao công việc phải làm để tránh mắc vào cái "bẫy thu nhập trung bình". Tổ quốc và nhân dân đang kỳ vọng vào các nhà khoa học, nhưng nhân dân cũng không thiếu minh mẫn để vội vã hùa theo ý kiến của một số người mượn danh khoa học, bày ra những phát kiến vô bổ, không giúp ích cho sự phát triển của đất nước mà còn báo hại cho quốc gia - dân tộc.

                                                                                          Mạnh Nguyên

25 tháng 11 2017

TIẾN SĨ ĐỘNG RỒ

PGS-TS Bùi Hiền
Người đang hô hào cải tiến chữ Quốc ngữ
Chữ nhiều nên lú rồi chăng
Làm cho thiên hạ ngỡ rằng ông điên
Hỡi ôi! tiến sĩ Bùi Hiền
Rỗi hơi nên mới tự nhiên động rồ
Nghĩ ra sáng kiến thật "phô":
Rằng là chữ cái bây giờ phải thay
"Văn minh" thừa dở thiếu hay
Tiến đâu chẳng thấy - lạy thày cải lui!  
                                  Cả Mõ






GS-TS ĐỀ NGHỊ THAY ĐỔI TOÀN BỘ BẢNG CHỮ CÁI TIẾNG VIỆT
            Chúng ta nghĩ sao nếu chữ ‘luật giáo dục’ phải viết là ‘luật záo zụk’, ‘nhà nước’ là ‘n’à nướk’… Nhưng đó là cách viết cải tiến mà PGS-TS Bùi Hiền đề xuất trong một cuốn sách mới xuất bản gần đây. Điều này gây ra nhiều tranh luận không chỉ trong giới chuyên môn mà cả những người đang sử dụng tiếng Việt.
           1. Ý kiến của TS Hiền:
* Chữ viết của tiếng Việt hiện tại chưa hợp lý?
            Đó là cuốn sách Ngôn ngữ ở Việt Nam – Hội nhập và phát triển (tập 1) dày 2.200 trang, do nhà xuất bản Dân trí phát hành, nhân Hội thảo ngữ học toàn quốc được tổ chức tại Trường ĐH Quy Nhơn hồi tháng 9. Trong rất nhiều bài viết của các nhà ngôn ngữ học, có bài “Chữ quốc ngữ và hội nhập quốc tế” của tác giả Bùi Hiền với đề xuất cải tiến chữ viết tiếng Việt gây nhiều tranh cãi.
            PGS-TS Bùi Hiền (Nguyên Hiệu phó trường ĐHSP Ngoại ngữ Hà Nội, nguyên phó Viện trưởng Viện Nội dung & Phương pháp dạy – học phổ thông) cho biết: “Từ năm 1924, khi toàn quyền Đông Dương ký nghị định cho phép dạy chữ quốc ngữ bắt buộc ở cấp tiểu học, trải qua gần một thế kỷ, đến nay chữ quốc ngữ đã bộc lộ nhiều bất hợp lý, nên cần phải cải tiến để giản tiện, dễ nhớ, dễ sử dụng, tiết kiệm thời gian, vật tư…”.
            Những bất hợp lý mà PGS Bùi Hiền đưa ra, đó là hiện tại, chúng ta sử dụng 2, 3 chữ cái để biểu đạt một âm vị phụ âm đứng đầu. Ví dụ C – Q – K (cuốc, quốc, ca, kali), Tr – Ch (tra, cha), S – X (sa, xa)… Bên cạnh đó, lại dùng 2 chữ cái ghép lại để biểu đạt âm vị một số phụ âm đứng cuối vần như Ch, Ng, Nh (mách, ông, tanh…). “Đó là những hiện tượng không thống nhất, không theo một nguyên tắc chung nào dẫn đến khó khăn cho người đọc, người viết, thậm chí gây hiểu nhầm hoặc không hiểu được chính xác nội dung thông tin. Người học như trẻ em hay người nước ngoài, cũng rất hay mắc lỗi do sự phức tạp này mang lại”, tác giả Bùi Hiền chia sẻ.
            Từ đó, PGS Hiền kiến nghị một phương án làm cơ sở để tiến tới một phương án tối ưu trình nhà nước. Chữ quốc ngữ cải tiến của tác giả Bùi Hiền dựa trên tiếng nói văn hóa của thủ đô Hà Nội cả về âm vị cơ bản lẫn 6 thanh điệu chuẩn, nguyên tắc mỗi chữ chỉ biểu đạt một âm vị, và mỗi âm vị chỉ có một chữ cái tương ứng biểu đạt. Sẽ bỏ chữ Đ ra khỏi bảng chữ cái tiếng Việt hiện hành và bổ sung thêm một số chữ cái tiếng Latin như F, J, W, Z. Bên cạnh đó, thay đổi giá trị âm vị của 11 chữ cái hiện có trong bảng trên, cụ thể: C = Ch, Tr; D = Đ; G = G, Gh; F = Ph; K = C, Q, K; Q = Ng, Ngh; R = R; S = S; X = Kh; W =Th; Z = d, gi, r. Vì âm “nhờ” (nh) chưa có kí tự mới thay thế, nên trong văn bản trên tạm thời dùng kí tự ghép n’ để biểu đạt.
            PGS-TS Bùi Hiền cho biết: “Đề xuất của tôi có nhiều nhà ngôn ngữ họ thấy hợp lý vì chữ viết mới có một nguyên tắc thống nhất. Nhưng cũng có nhiều ý kiến phản bác vì cho rằng nếu cải tiến vậy sẽ phức tạp, có nhiều hệ lụy. Ví dụ kho tư liệu đồ sộ cũ chuyển sang chữ viết mới thì sẽ xử lý như thế nào. Và để thay đổi sẽ phải mất rất nhiều thời gian: thay đổi nhận thức, thay đổi cách học, cách dạy, sách giáo khoa cũng phải thay đổi, các văn bản, sách, báo, rồi lập trình chữ viết trên máy tính… Phải thay đổi từng bước một. Nhưng chỉ cần mất 1-2 năm là quen dần”.
            Bù lại, theo PGS Hiền, cải tiến theo cách này sẽ thống nhất được chữ viết cho cả nước, loại bỏ được hầu hết các thiếu sót, bất cập không nhất quán trước đây gây khó khăn cho người dùng (dẫn mắc lỗi chính tả), giản tiện được bộ chữ cái khi từ 38 chữ cái chỉ còn 31, dễ nắm được quy tắc, dễ nhớ. Ngoài ra, còn tiết kiệm được thời gian, công sức, vật tư trong quá trình tạo lập các văn bản trên giấy, trên máy tính.
                2. Ý kiến của các chuyên gia và nhà chuyên môn:
* Sẽ mất đi sự tinh tế trong cách viết, đọc và phát âm của tiếng Việt
            Chia sẻ về vấn đề cải tiến chữ quốc ngữ, PGS-TS Nguyễn Hữu Hoành, Phó Viện trưởng Viện Ngôn ngữ học Việt Nam cho biết, vấn đề này đã được các nhà ngôn ngữ học trao đổi, đề cập rất nhiều trong những năm qua chứ không riêng gì đề xuất của PGS-TS Bùi Hiền.
            “Tuy nhiên, không thể thay đổi được và cũng không nên thay đổi, vì chữ viết liên quan đến văn hóa, lịch sử và rất nhiều vấn đề khác. Ngay cả tiếng Anh, một ngôn ngữ phổ biến có nhiều chữ đọc và viết bất hợp lý mà cũng không ai nghĩ đến việc cải tiến. Đến nay, trải qua nhiều thế kỷ, tiếng Việt đã định hình và chữ quốc ngữ đã tồn tại cả thế kỷ với kho tư liệu đồ sộ từ lúc hình thành đến bây giờ”, PGS-TS Nguyễn Hữu Hoành nhìn nhận.
            GS-TS Bùi Khánh Thế (chuyên ngành ngôn ngữ học, Phó Chủ tịch Hội đồng khoa học và đào tạo Trường ĐH Ngoại ngữ-Tin học TP.HCM ), cũng cho rằng, từ năm 1997, Trường ĐH Khoa học xã hội và nhân văn TP.HCM đã tổ chức hội thảo Chữ quốc ngữ và sự phát triển chức năng xã hội của tiếng Việt, với 32 bài viết từ các chuyên gia ngôn ngữ. Từ đó đến nay cũng có rất nhiều hội thảo, chuyên đề đề cập tới việc nên giữ hay cải tiến.
            Nói về đề xuất của PGS-TS Bùi Hiền, giáo sư Bùi Khánh Thế cho biết: “Có một số bất hợp lý, chẳng hạn ký tự q lại thay thế cho chữ ng, z thay gi, c thay tr, ch… Chưa kể làm vậy sẽ mất đi sự tinh tế trong cách viết, đọc và phát âm của tiếng Việt. Từ lúc hình thành cho đến nay, tiếng Việt có nhiều âm thay đổi nhưng chữ viết vẫn giữ nguyên. Đó chính là sự bền vững cần có, chỉ những gì bất hợp lý mới mất đi”.
            Theo GS-TS Bùi Khánh Thế, càng đổi mới thì càng bị rối. Đó là chưa kể, sẽ phải tốn rất nhiều thời gian, công sức và kinh phí để thay đổi. Vì thế, đối với chữ quốc ngữ, nên tìm cách chú ý khắc phục những cái khó, hơn là cải tiến.
Dưới đây là một ví dụ về cách viết cải tiến theo đề xuất của ông Bùi Hiền. 
LUẬT ZÁO ZỤK
Diều 7. Qôn qữ zùq coq n’à cườq và kơ sở záo zụk xák; zạy và họk tiếq nói, cữ viết kủa zân tộk wiểu số; zạy qoại qữ.
1. Tiếq Việt là qôn qữ cín’ wứk zùq coq n’à cườq và kơ sở záo zụk xák. Kăn kứ vào mụk tiêu záo zụk và yêu kầu kụ wể về nội zuq záo zụk, Wủ tướq cín’ fủ kuy dịn’ việk zạy và họk bằq tiếq nướk qoài coq n’à cườq và kơ sở záo zụk xák.
2. N’à nướk tạo diều kiện dể qười zân tộk wiểu số dượk họk tiếq nói, cữ viết kủa zân tộk mìn’ n’ằm zữ zìn và fát huy bản sắk văn hoá zân tộk, zúp co họk sin’ qười zân tộk wiểu số zễ zàq tiếp wu kiến wứk xi họk tập coq n’à cườq và kơ sở záo zụk xák. Việk zạy và họk tiếq nói, cữ viết kủa zân tộk wiểu số dượk wựk hiện weo kuy dịn’ kủa Cín’ fủ.
3. Qoại qữ kuy dịn’ coq cươq cìn’ záo zụk là qôn qữ dượk sử zụq fổ biến coq zao zịk kuốk tế . Việk tổ cứk zạy qoại qữ coq n’à cườq và kơ sở záo zụk xák kần dảm bảo dể qười họk liên tụk và kó hiệu kuả.
            Dịch ra chữ hiện tại:
            LUẬT GIÁO DỤC
            Điều 7. Ngôn ngữ dùng trong nhà trường và cơ sở giáo dục khác; dạy và học tiếng nói, chữ viết của dân tộc thiểu số; dạy ngoại ngữ.
            1. Tiếng Việt là ngôn ngữ chính thức dùng trong nhà trường và cơ sở giáo dục khác. Căn cứ vào mục tiêu giáo dục và yêu cầu cụ thể về nội dung giáo dục, Thủ tướg chíh phủ quy định việc dạy và học bằng tiếng nước ngoài trong nhà trường và cơ sở giáo dục khác.
            2. Nhà nước tạo điều kiện để người dân tộc thiểu số được học tiếng nói, chữ viết của dân tộc mình nhằm giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc, giúp cho học sinh người dân tộc thiểu số dễ dàng tiếp thu kiến thức khi học tập trong nhà trường và cơ sở giáo dục khác. Việc dạy và học tiếng nói, chữ viết của dân tộc thiểu số được thực hiện theo quy định của Chíh phủ.
            3. Ngoại ngữ quy định trong chương trình giáo dục là ngôn ngữ được sử dụng phổ biến trong giao dịch quốc tế. Việc tổ chức dạy ngoại ngữ trong nhà trường và cơ sở giáo dục khác cần đảm bảo để người học được học liên tục và có hiệu quả.
* Chữ viết hiện tại phong phú và không cần thiết thay đổi
            Ông Trương Minh Đức, giáo viên ngữ văn Trường THPT Lê Quý Đôn, TP.HCM cho rằng, tiếng Việt được hình thành từ lâu, đó là cả một quá trình tất nhiên bản thân nó cũng đã có những quy tắc. Dùng đúng hay chưa phù hợp thì bản thân nó cũng đã mang tính quy ước và có tính ổn định, thống nhất. Việc Chữ quốc ngữ cải tiến dựa trên tiếng nói văn hóa của thủ đô Hà Nội liệu có đảm bảo độ chính xác cao khi bản thân phương ngữ và cả ngữ âm Hà Nội không ai dám chắc là chính xác. Vả lại sự phát triển ngôn ngữ trong tiếng Việt nó còn do yếu tố từ yêu cầu của ngôn ngữ địa phương, vùng miền. Mặc dù điều này khó mang đến sự thống nhất nhưng nó lại làm phong phú vốn từ và thể hiện được bản sắc riêng từng địa phương.
            Về phương án thay đổi âm vị của 11 chữ cái như PGS-TS Bùi Hiền đưa ra, theo thầy Đức là không cần thiết và không hợp lý, chỉ gây nên sự xáo trộn không cần thiết, làm ảnh hưởng đến nhiều hệ thống bảng biểu, luật định, văn bản… Và ngay cả tên gọi cá nhân trong các hồ sơ pháp lý.
            “Việc dạy và học văn sẽ gặp rất nhiều sự trở ngại. Đó là phải đào tạo lại giáo viên (không kể giáo viên dạy các môn khác môn ngữ văn), điều chỉnh lại tất cả các văn bản văn học, kể cả văn bản văn học chữ quốc ngữ (phải xin phép cả những tác giả đã khuất) hoặc nếu không phải có hàng loạt các chú thích cuối trang để những học sinh đối chiếu với văn bản gốc. Cần nhiều thời gian để giáo viên và cả xã hội làm quen những điều vốn dĩ không cần thiết song hành với bao phức tạp của xã hội”, ông Đức nhìn nhận.

                                                                                             Theo: Việtkhámphá

NHÀ MÕ THỀ ĐỘC


            Thời Phong Kiến, Mõ được coi là một chức việc thấp nhất trong làng. Bởi vậy, mỗi khi có đình đám, việc làng thì Mõ phải đi rao, mời dân làng. Đến ngày làng vào việc thì phải ra đình sớn để trải chiếu, sắp cỗ… phục vụ các "cụ". Vậy mà bổng lộc và chỗ ngồi thì được phân thứ hạng thấp nhất. Điều ấy làm cho Mõ cũng cảm thấy bực mình. Đó chính là lý do để họ nhà Mõ nghĩ ra nhiều mánh khoé "mơi lộc", thậm chí là chọc tức cả "các cụ" chức sắc trong làng. 
            Chuyện kể rằng, một hôm làng có việc, trong lúc thái thịt sắp cỗ, giữa buổi đang đói bụng, mùi thơm của thịt chín lại quyến rũ khó mà cưỡng lại. Kiếm cớ để chén trước, cứ miếng nào ngon mõ ta lại cố tình hẩy rơi xuống đất, rồi nhặt lên thổi đánh phù và cho vào miệng. Để ý thấy vậy, ông Lý bực lắm, ông liền quát:
            - Nhà Mõ kia, sao thái thịt mà mày cứ ăn thế thì còn gì là cỗ của các cụ!.
           Mõ vội khúm núm thưa:
            - Dạ, đâu có, con chỉ ăn miếng rơi xuống đất thôi ạ!.
            - Tao thấy mày cứ ăn nhem nhẻm chứ đất với cát cái gì! - ông Lý lại quát.
            Mõ vội bỏ dao xuống, trợn mắt lên thề rằng:
            - Thật ạ! Con xin thề với cụ Lý: Tổ sư đứa nào ăn miếng trên thớt!

            Biết bị chửi vỗ vào mặt, nhưng ông Lý cũng khó mà bắt bẻ. 
                                                                                                                      C.M

16 tháng 11 2017

CHUYỆN THẰNG ĐÂN


                Bây giờ tên nó là Đân - Nguyễn Trọng Đân, ấy là vì người ta đã cất đi cho nó cái dấu huyền (-) vào thời bắt đầu vào cấp 1, vì sợ nó lớn rồi ngượng với bạn bè. Cái tên này bắt nguồn từ bản tính cù lần, đần thối của nó từ khi còn nhỏ. Ngày bắt đầu học chữ, cậu nó dạy viết chữ a, nó hí hoáy cả buổi mới khoanh ngược được một chữ o to tổ bố, nhưng to quá khổ choán hết cả trang giấy. Nó đành gọi cậu và bảo:
            - Cậu ơi, sách bé quá, hết chỗ để vẽ cái móc cho chữ a rồi!.
            Đến lúc học ghép vần, có chữ ớt mà nó cứ gãi đầu, không sao đánh vần nổi. Cậu nó sốt ruột gợi ý:
            - Ơ-tờ gì?
            Nó vội “đớp” lấy ngay:
            - Ơ…tờ…GÌ! – rõ to.
            Cậu nó bực lắm, nhưng cố ôn tồn bảo:
            - Cậu hỏi, chữ ơ với chữ tờ ghép lại thì thành thành chữ gì, sao mày lại nhắc lại. Vậy chữ ơ ghép với chữ tờ thành quả gì đo đỏ hả?
            - Lại sáng mắt lên, nó xướng rõ to: Ơ…tờ  GẤC!.
            Cậu nó quát:
            - Không phải, cái gì cay cay hả?
            Không cần suy nghĩ, nó lại xướng:
            - Ơ…tờ GỪNG!
            Đến đây thì không kiên nhẫn được nữa, cậu nó đành cho nó một cái tét vào đít cho bõ tức.
            Nhưng học mãi rồi cũng thành "nhân". Nghe đâu sau tốt nghiệp phổ thông, nó thi vào ngành quản trị kinh doanh. Sau ngày tốt nghiệp, cũng nhờ quan hệ nó được nhận vào một đơn vị cơ quan nhà nước. Chẳng biết sao, mới vài tháng làm việc nó đã dính vào một vụ bê bối, nghe đâu là làm giả chứng từ gì đó, tham ô đến hàng chục triệu đồng. Tưởng thế thì toi, nhưng không biết sao nó lại thoát được vụ ấy bằng cho chuyển đơn vị công tác.
            Vậy mà mới hơn mười năm không gặp, hôm rồi có dịp lên huyện, mình lại thấy nó xúng xính trong bộ Comple, oai đáo để. Hỏi ra mới biết, giờ nó đang là trưởng cái phòng quản lý nhân sự. Nhà nó giàu sụ nhất nhì thị trấn. Người ta bảo, nó ngồi được vào cái ghế "lắm màu" ấy là nhờ có tiếng nói của ông bố vợ làm phó chủ tịch tỉnh về hưu can thiệp.

            Đúng như dư luận hiện nay, cơ chế "hậu duệ" là đứng hàng thứ nhất trong 5 cái nấc " Ệ" của công tác tuyển dụng và bổ nhiệm cũng phải!.   
                                                                                                                           C.M

04 tháng 11 2017

CHỈ TẠI CÁI MŨI DÀY

            Có một cô gái đến Câu lạc bộ đăng ký học nhảy. May quá, cô được phân công thầy hướng dẫn rất ga-lăng. Sau 1 ngày tập 2 người có vẻ đã kết thân, nên vừa nhảy vừa tâm sự có phần không còn cần ý tứ.
Hình minh họa (mạng)
            Thầy ghé sát tai trò nói nhỏ:
            - Hôm nay em mạc quần con mầu đỏ à?
           - Vâng, sao thầy giỏi thế? – cô gái ngạc nhiên hỏi lại. Nhưng thầy không trả lời mà chỉ nháy mắt cười.
Hôm sau cô gái cố tình thay quần lót màu khác. Và đố:
            - Thầy đoán xem em hôm nay em mặc quần con mầu gì?
            Thầy tủm tỉm cười, rồi trả lời chắc như đinh đóng cột:
            - Hoa, có chấm vàng!
            Đến đây thì không nghi ngờ gì nữa, cô học trò bái phục thầy sát đất.
          Hôm thứ 3 - để xác định cái tài đoán của thầy, cô gái quyết định không mặc quần con nữa, nhảy được một hồi cô mới thỏ thẻ hỏi:
            - Đố thầy, hôm nay em mặc quần gì nào?
            Ấp úng một hồi, thầy đành nói thật:
            - Xin lỗi, hình như mũi dày của thầy hôm nay nó bị nứt!.     

            !!!.

28 tháng 10 2017

CÁI THUYẾT TINH THẦN


            Ông lão nọ có con làm việc ở mãi trên một huyện vùng cao-miền núi. Nghe nói ở đó có nhiều sơn hào quý lắm cho nên ông mới bảo con tìm mua cho lạng cao hổ cốt thứ thiệt. Bữa ấy anh con trai về tranh thủ được một ngày rồi lại đi ngay, ông cũng quên không hỏi là đã mua được cao hổ chưa. Anh con trai đi rồi, ông mới thấy một gói giấy vuông vức đặt ngay ngắn trên nóc tủ, ông lão liền trách:
            - Thằng này đoảng quá, mua cao hổ cho bố để đây chẳng nói mà quên luôn.
            Rồi ông mắm môi thái miếng cao vừa dai vừa rắn, cho vào bình rượu để ngâm. Nửa tháng sau bình rượu vẫn trong leo lẻo như mắt mèo. Ông lão bụng bảo dạ: Chắc là cao tốt nên nó lâu tan.
Ảnh minh họa
            Cho đến một hôm nhà có giỗ, ông mời mấy cụ bạn chí cốt hàng xóm sang, mới trịnh trong bỏ bình rượu quý ra thết đãi. Phàm đã là rượu thuốc quý thì chỉ nên uống một chén nhỏ thôi rồi chuyển sang rượu khác. Vậy mà hai hôm sau mấy cụ hàng xóm sang chơi, cứ tay đấm, tay day vào thắt lưng, đầu gối, miệng xuýt xoa:
            - Cao hổ cốt có khác, uống vào nó cứ là giãn cả xương cả cốt cụ ạ!
            Ba tháng sau anh con trai về phép, ông lão trách:
            - Anh mua cao hổ cho bố mà để quên trên nóc tủ, thật đoảng quá chứ lỵ!
            Anh con trai ngớ ra một hồi, rồi đành thú thật:
            - Con đã mua được cao đâu, đấy là miếng má phanh xe đạp đấy bố ạ!
            …?
            Thảo nào, mấy ông thầy thuốc cứ bảo chữa bệnh thì yếu tố tinh thần là quyết định, cấm có sai!.
                                                                                                                      C.M


21 tháng 9 2017

CUỘC CHIẾN BIÊN GIỚI PHÍA TÂY NAM – SAU HƠN 30 NĂM NHÌN LẠI


Từ khi quân Pol Pot gây hấn ở biên giới Tây Nam Việt Nam cho đến ngày sự thật được phơi bày (những kẻ cầm đầu Khmer đỏ bị xét xử) là hơn 30 năm (1975 – 2006).

Sau sự kiện 30/4/1975, quân Pol Pot đã tiến hành xâm lấn biên giới Việt Nam mà đầu tiên là đảo Phú Quốc (4/5/1975) rồi tới đảo Thổ Chu, giết chết 500 thường dân. Chúng gây ra hàng loạt cuộc thảm sát nhân dân biên giới Việt Nam-CamPuChia.
Tháng 4/1977, quân Pol Pot tiến sâu 10 km vào lãnh thổ Việt Nam, chiếm một số vùng ở tỉnh An Giang và tàn sát một số lớn dân thường.
Ngày 25/9/1977, 4 sư đoàn quân Pol Pot đánh chiếm nhiều điểm ở các huyện Tân Biên, Bến Cầu, Châu Thành (tỉnh Tây Ninh), đốt phá 471 ngôi nhà, giết, làm mất tích và bị thương gần 800 người dân.
Quân đội Việt Nam phối hợp với quân Cách mạng Căm-Pu-Chia tấn công Khmer Đỏ 
Tính từ tháng 5-1975 đến ngày 23-12-1978, Pol Pot đã giết hại hơn 5.000 dân thường Việt Nam, làm bị thương gần 5.000 người, bắt và đưa đi thủ tiêu hơn 20.000 người. Chủ trương của quân Pol Pot là “Chỉ cần mỗi ngày diệt vài chục, mỗi tháng diệt vài ngàn, mỗi năm diệt vài ba vạn thì có thể đánh 10, 15, đến 20 năm. Thực hiện 1 diệt 30, hy sinh 2 triệu người Campuchia để tiêu diệt 50 triệu người Việt Nam”.
Bảo vệ biên giới Tổ quốc
Ngày 31/12/1977 Việt Nam đưa 6 sư đoàn bộ binh đánh sâu vào đất Campuchia, giải thoát cho một số cán bộ quan trọng của Campuchia, trong đó có Thủ tướng tương lai Hun-Sen.Cuộc tấn công này được xem là lời “cảnh cáo” cho chính quyền Khmer Đỏ.
Với thiện chí của mình, Việt Nam đề nghị đàm phán nhằm thiết lập một vùng phi quân sự dọc biên giới, nhưng Pol Pot nhiều lần từ chối, và giao tranh lại tiếp diễn. Từ tháng 12/1977 đến tháng 6/1978, hơn 30 vạn thường dân Việt Nam phải di tản vào sâu trong nội địa.
Ngày 13/12/1978, được sự trang bị và hậu thuẫn của Trung Quốc, chính quyền Khmer Đỏ đã huy động 19 trong số 23 sư đoàn (khoảng 80.000 đến 100.000 quân) tấn công xâm lược Việt Nam trên toàn tuyến biên giới. Trước tình hình đó Việt Nam buộc phải huy động lực lượng lớn, với nhiều binh đoàn phối hợp cùng lực lượng của chính phủ Cách mạng Căm-Phu-Chia để đánh trả, đồng thời giúp cho chính phủ non trẻ của Căm-Pu- Chia giải phóng đất nước.
Từ tháng 6/1977 đến tháng 12/1978, quân tình nguyện Việt Nam đã tiêu diệt 38.563 quân Khmer đỏ, bắt sống 5.800 tên. Kết thúc cuộc chiến, quân tình nguyện Việt Nam đã tiêu diệt và loại khỏi vòng chiến hơn 10 vạn quân Pol Pot.
Công an Vũ trang tỉnh An Giang Bảo vệ biên giới
Đến 7-1-1979, Phnom Penh được giải phóng. Nhưng phải đến 10 năm sau cuộc chiến mới thực sự kết thúc. Dưới chế độ Khmer đỏ, hơn 3 triệu người dân Campuchia đã chết thảm vì nạn diệt chủng của Pol Pot. Cuộc chiến kết thúc, nhưng Việt Nam cũng có hàng chục ngàn quân nhân hy sinh hoặc mất tích và hàng trăm ngàn người bị thương; ngoài ra còn tới hơn 55 ngàn dân thường chết hoặc bị thương và mất tích.

Cái nhìn của quốc tế và khó khăn của Việt Nam

Để chống lại sự tấn công xâm lược lãnh thổ của quân Pol Pot – Cuộc chiến biên giới Tây Nam Việt Nam thực chất là một cuộc chiến tranh tự vệ chính đáng theo điều 51 Hiến chương Liên Hợp Quốc. Cuộc chiến này còn mang tính nhân đạo, giúp Campuchia thoát khỏi nạn diệt chủng và giúp họ xây dựng chính quyền Cách mạng mới.
Nhân dân Căm Pu Chia tiễn quân Tình nguyện Việt Nam về nước.

Mặc dù vậy, về quan điểm của quốc tế khi đó - ngoài Liên Xô và Cu Ba (trong phe XHCN) thì phần lớn đều ủng hộ chính quyền Khmer đỏ và cho rằng, Việt Nam đang tiến hành cuộc chiến tranh xâm lược Campuchia.

Phương Tây và Trung Quốc đều viện trợ cho chính quyền Khmer đỏ - trong đó Trung Quốc là nước viện trợ tích cực nhất cho chính quyền Khmer đỏ (nếu không muốn nói chính Trung Quốc đã hậu thuẫn cho chính quyền Khmer đỏ tấn công Việt Nam).
Cũng trong thời gian này, phương Tây mà đứng đầu là Mỹ đã tuyên truyền là: Việt Nam đang “Thuộc địa hóa” Campuchia theo thuyết “Chủ nghĩa bành trướng của cộng sản”. Họ gọi Việt Nam là Đế chế Cộng sản ở Đông Dương, rằng “Hà Nội muốn thành lập 1 Liên Bang Đông Dương và lãnh đạo 3 nước Đông Dương”.
Thái Lan cũng không công nhận cuộc chiến của Việt Nam, chính phủ Thái để Khmer đỏ đóng quân trên lãnh thổ giáp biên để nhận viện trợ từ Phương Tây và Trung Quốc cho đến năm 1988 mới chấm dứt. 
Cùng với việc hậu thuẫn cho chính quyền Khmer đỏ xâm lược Việt Nam, từ năm 1976 Trung Quốc ngừng gói viện trợ không hoàn lại cho Việt Nam hằng năm, đồng thời cắt việc cung cấp hàng tiêu dùng. Khó khăn càng nhiều, khi các nước khác cũng viện trợ nhỏ giọt, tiếp đó là lũ lụt năm 1978 – trận lụt lớn nhất trong 60 năm làm cho kinh tế Việt Nam kiệt quệ.
Các nước phương Tây, sau đó chỉ còn Pháp viện trợ với số lượng ít cho Việt Nam, trong khi Mỹ lại siết chặt cấm vận. Khó khăn đã khiến khẩu phần ăn trong nước bị giảm xuống 1kg gạo/tháng, kể cả quân tình nguyện trên đất Campuchia cũng bị cắt giảm như vậy. Tuy nhiên, năm 1979 Việt Nam vẫn viện trợ cho Cộng hòa Nhân dân Campuchia 120.000 tấn lương thực.
Cũng từ thời điểm này, Trung Quốc bắt đầu gây hấn ở Biển Đông và các tỉnh phía Bắc Việt Nam, đỉnh điểm là cuộc chiến xâm lược toàn tuyến biên giới 6 tỉnh phía Bắc Việt Nam vào đầu năm 1979. Tiếp sau nữa là “Sự kiện Gạc Ma” - năm 1988.
Tháng 4/1981 Việt Nam đã thể hiện sẵn sàng rút tất cả quân tình nguyện khỏi Campuchia, nếu Trung Quốc ký một hiệp ước không xâm lược Việt Nam, Lào và Cộng hoà nhân dân Campuchia. Nhưng Trung Quốc kiên quyết không chấp nhận đề nghị trên.
Tháng 9/1989 – sau khi không còn sự đe dọa bởi tàn quân Pol-Pot, quân Tình nguyện Việt Nam đã rút hoàn toàn về nước. 
Tháng 12/1999, Ta Mok và các thủ lĩnh còn lại của Khmer đỏ ra đầu hàng - trên thực tế đến đây Khmer Đỏ mới thực sự chấm dứt sự tồn tại. 
Năm 2006 phiên tòa xét xử tội ác Khmer đỏ được thành lập, ngày 26/7/2011 bắt đầu phiên xét xử đầu tiên đối với các thủ lĩnh của tổ chức này. 
Như vậy, cuộc chiến 10 năm bảo vệ đất nước của Việt Nam, đồng thời giúp đỡ nhân dân Căm-Pu-Chia thoát khỏi nạn diệt chủng đã hoàn toàn có kết quả. Nhưng trên hết, thế giới vẫn còn nợ Việt Nam một lời xin lỗi.
                                                                C.M Sưu tầm &biên tập

09 tháng 9 2017

TIẾP RƯỢU CÙNG BỐ VỢ


Anh chàng nọ vốn tính nho nhã, một hôm đến chơi nhà bố vợ. Nhân có mấy ông khách nên anh được bố mời ngồi cùng mâm để tiếp khách. Lúc đầu anh chàng cũng ý tứ lắm. Nhưng ngặt nỗi, vớ phải mấy ông khách cũng thuộc hạng “Chân dày” trong "làng" uống rượu, nên họ cứ tìm cớ chúc tụng theo kiểu “trăm phần trăm” liên tục. Thậm chí mỗi lần dốc cạn chén, một trong mấy khách bợm còn xoi mói kiểm tra xem đã uống hết chưa.
Chàng rể vì nể bề trên, phần vì muốn thể hiện sức trẻ nên có đôi lần còn ra tay đỡ cho bố vợ nữa. Uống được một hồi, xem ra đã ngấm men nên phần ý tứ của chàng rể cũng giảm dần.
Nhận thấy điều đó, khi mấy ông khách lại kiếm cớ để “trăm phần trăm”, ông bố vợ liền gàn khách:
       - Các bác thông cảm cho, sức rượu của cháu nó cũng có hạn...

Ảnh minh họa (từ Internet)
          Nhưng không đợi bố vợ nói hết, chàng rể đã xua tay, trợn mắt mà rằng:
         - Bố yên...yên tri..í. Đứng về mặt rượu mà nói nhá, con chấp, bố đứa nào làm được thằng nay say!.

        Suy cho cùng, âu cũng là chuyện “Tiên trách kỷ, hậu trách nhân”!.

                                                                                                                                                                                             C.M

08 tháng 9 2017

Từ bỏ giàu sang về khám bệnh ở quê nhà

TTO - Bác sĩ Trần Hoàng Minh, 29 tuổi, quốc tịch Mỹ, học Trường ĐH Houston (Mỹ) và tốt nghiệp ĐH Queensland (Úc) đã chọn Bệnh viện Gò Vấp, TP.HCM làm việc. Vị bác sĩ này làm chuyện rất "lạ": gọi điện hỏi thăm sau khi bệnh nhân xuất viện...


Hiện bác sĩ Trần Hoàng Minh đang làm việc tại khoa cấp cứu Bệnh viện Q.Gò Vấp. Đã cấp cứu cho hàng trăm bệnh nhân trong bảy tháng làm việc, nhưng chưa bệnh nhân nào biết bác sĩ Minh từng sống ở Mỹ bởi anh nói tiếng Việt rất chuẩn.
“Tại sao em lại về đây?”
8 tuổi, Minh sang Mỹ ở cùng gia đình. Gần 20 năm sống ở Mỹ nhưng hằng ngày ba mẹ Minh đều nói chuyện với con bằng tiếng Việt.
Ba mẹ Minh quan niệm “Là người Việt Nam, một ngày nào đó có cơ hội quay về Việt Nam thì con phải nói được bằng tiếng Việt”.
Gần như mùa hè nào Minh cũng được ba mẹ cho về TP.HCM thăm bà nội, họ hàng nên Minh quen với cách sống, môi trường ở Việt Nam. Sau bốn năm học tại Trường đại học Houston (Mỹ), Minh lấy bằng cử nhân, dự thi và học tiếp tại Trường đại học Queensland (Úc).
Ngày đó Minh quyết định sang Úc học ngành y vì tốt nghiệp Trường đại học Queensland Minh có quyền hành nghề bác sĩ tại cả Mỹ và Úc. Thế nhưng, trước ngày tốt nghiệp Minh quyết định sẽ về TP.HCM để chăm sóc bà nội và góp sức mình phục vụ những người bệnh tại quê hương.
“Ba mẹ và em trai Minh vẫn đang ở bên Mỹ, Minh quyết định về Việt Nam làm việc có nhận được sự ủng hộ từ gia đình?” - chúng tôi hỏi.
Chàng trai trẻ mỉm cười và nhắc lại lời của ba mẹ mình thay cho câu trả lời: “Con thích làm việc ở đâu thì con ở đó, miễn là nơi đó con cảm thấy vui. Ba mẹ luôn ủng hộ con”.
Tháng 7-2015, Minh từ Mỹ về Việt Nam. Trước khi quyết định chọn bệnh viện nào để nộp hồ sơ xin việc, Minh tự chạy xe máy đến nhiều bệnh viện trong TP.HCM, “đóng vai” người bệnh để quan sát cách tiếp nhận, phục vụ của từng bệnh viện. Nhận thấy Bệnh viện Q.Gò Vấp coi trọng bệnh nhân, lại gần nhà bà nội nên Minh nộp đơn xin việc.
Buổi sáng hôm ấy, nộp xong hồ sơ Minh chạy xe về ngay vì nghĩ phải chờ một thời gian nữa mới được gọi. Ai dè đang trên đường chạy xe về nhà thì giám đốc bệnh viện gọi điện bảo quay lại phỏng vấn.
Gặp Minh, TS.BS Phạm Hữu Quốc, giám đốc bệnh viện, tỏ vẻ ngạc nhiên và hỏi đi hỏi lại: “Tại sao em lại xin về đây?”. TS Quốc chia sẻ về thu nhập tại các bệnh viện công không bằng các bệnh viện tư và càng chênh lệch rất nhiều so với bác sĩ làm việc tại Mỹ. Lúc đó Minh trả lời: “Em đi làm chỉ vì yêu thích công việc. Em không đặt nặng về lương. Em nghĩ đủ sống là được rồi”.
BS Minh thăm khám người bệnh
Bệnh nhân cảm động
Sau khi con gái tôi, bé P.T.M.A. 3 tuổi, được xuất viện, hai ngày sau bác sĩ Minh gọi điện cho tôi hỏi thăm cháu có ăn uống được không, có đi tiêu chảy hay không...
Vợ chồng tôi rất ngạc nhiên vì từ trước đến nay đưa con đi khám bệnh nhiều lần nhưng chẳng thấy bác sĩ nào như thế. Chúng tôi tự hỏi ông bác sĩ này ở đâu ra mà tốt thế nhỉ? Nếu sau này con tôi có bệnh, chắc chắn vợ chồng tôi sẽ quay lại khoa cấp cứu Bệnh viện Q.Gò Vấp để nhờ bác sĩ Minh điều trị.
                                                               Phạm Văn Chính-người nhà bệnh nhân
Từ ngày đi làm, Minh dành nhiều thời gian ở trong bệnh viện. Những ngày không phải trực nhưng nếu thấy “nhớ” bệnh viện, Minh lại đến khoa cấp cứu tự nguyện phục vụ bệnh nhân.
7g sáng mới bắt đầu giao ca nhưng nếu đến ca trực, Minh luôn có mặt từ lúc 6g30. Minh bảo bác sĩ trực ca đêm rất mệt, nếu có bệnh nhân nhập viện lúc 6g55 sẽ phải ở lại thêm để tiếp nhận bệnh nhân, chưa kể bệnh nhân mới được bác sĩ này tiếp nhận đã thay ngay một bác sĩ khác.
Các bệnh nhân đến khoa cấp cứu Bệnh viện Q.Gò Vấp đều cảm nhận được ở Minh một bác sĩ rất ân cần, nhẹ nhàng và tận tụy với bệnh nhân. Khi hỏi bệnh những bệnh nhân lớn tuổi hơn, bác sĩ Minh luôn bắt đầu bằng từ “Thưa...” rất lễ phép.
Hôm đó có một nam bệnh nhân bị chấn thương được đưa vào cấp cứu. Sau khi được bác sĩ kê toa thuốc, bệnh nhân phải đi đóng viện phí nhưng không có thân nhân đi cùng. Lúc đó công việc không quá bận, các điều dưỡng lại đang làm những việc khác nên bác sĩ Minh đã đẩy xe lăn đưa bệnh nhân đi đóng tiền.
Gặp những bệnh nhân già yếu khác, dù đã được chỉ đường nhưng vẫn không biết cách đi, bác sĩ Minh đã dẫn họ tới tận các khoa phòng. Những bệnh nhân này rất ngạc nhiên và khi hiểu ra họ đã rất cảm động.
Về quê hương làm việc, bác sĩ Minh cũng nhận ra một vấn đề đang còn thiếu sót tại Việt Nam. Đó là khoảng cách rất xa giữa bác sĩ và bệnh nhân, nhất là những bệnh nhân yếu kém về tài chính, trình độ.
Minh quan niệm dù bệnh nhân là người như thế nào thì bác sĩ cũng phải luôn coi bệnh nhân là trên hết. Theo Minh, mỗi bệnh nhân đều để lại cho bác sĩ một ký ức, một kinh nghiệm trong nghề nghiệp và chính bệnh nhân đã giúp bác sĩ nâng cao được tay nghề.
Càng tiếp xúc với bệnh nhân ở quê hương, bác sĩ Minh càng cảm thấy thương nên làm được việc gì giúp bệnh nhân là anh làm ngay.
Trong những đêm cấp cứu, gặp những bệnh nhân già yếu không có người thân đi cùng, cần ly nước để uống thuốc nhưng không có ai chạy đi mua nước, Minh liền xin ý kiến bệnh viện, tự bỏ tiền mua bình nước để ngay trong khoa cho bệnh nhân uống.
Minh còn tự mua đồ cặp nhiệt điện tử (đo nhiệt độ trong khoảng 5 giây là có kết quả) cho khoa dùng vì bệnh viện chỉ có cặp nhiệt bằng thủy ngân. Theo anh, cặp nhiệt bằng thủy ngân chính xác nhưng phải mất vài phút mới lên được nhiệt độ, trong khi cấp cứu cần có kết quả nhanh hơn. Anh còn tự mua thêm cả máy đo SPO2 (đo lượng oxy trong máu) xem bệnh nhân thật sự có khó thở hay không.
Hiện anh đang cùng một người bạn am hiểu về tin học viết một phần mềm phục vụ bệnh nhân. Phần mềm này gần giống với phần mềm ở Mỹ. Từ triệu chứng của người bệnh, phần mềm này sẽ đặt câu hỏi để người bệnh trả lời, sau đó hướng dẫn họ đến chuyên khoa nào khám bệnh...
Đến tận nhà thăm bệnh nhân
Đôi khi Minh còn tìm đến tận nhà bệnh nhân vì không liên lạc được với họ qua số điện thoại. Một bệnh nhân nữ bị bệnh Zona đã đến Bệnh viện Q.Gò Vấp cấp cứu vì quá đau.
Khi điều trị, bệnh nhân ổn định và được xuất viện. Minh kê toa thuốc và dặn bệnh nhân nếu lái xe ban ngày thì không nên uống vì thuốc sẽ gây chóng mặt. Dù đã dặn bệnh nhân nhưng anh vẫn thắc mắc không biết bệnh nhân có bị chóng mặt hay không.
Xem lại hồ sơ bệnh án thì không có số điện thoại, chỉ có địa chỉ bệnh nhân, nên lúc đi làm về anh chạy qua nhà bệnh nhân chỉ để hỏi bệnh nhân có bị chóng mặt không rồi về ngay.
Minh kể bên Mỹ bác sĩ không trực tiếp theo dõi bệnh nhân như vậy, nhưng sau ba ngày bệnh nhân khám bệnh hoặc xuất viện sẽ có nhân viên bệnh viện gọi điện hỏi thăm sức khỏe người bệnh có tốt hơn không.
Minh rất thích cách làm việc như vậy vì sau khi điều trị cho bệnh nhân, bác sĩ cũng cần biết kết quả điều trị của mình thế nào để rút kinh nghiệm cho những lần điều trị tiếp theo.
Thấy việc theo dõi sức khỏe bệnh nhân sau điều trị là cần thiết, Minh đã xin ý kiến giám đốc bệnh viện lập ra một cuốn sổ riêng để tự theo dõi sức khỏe bệnh nhân và mức độ hài lòng của họ khi được anh điều trị.
Anh sẽ ở Việt Nam luôn hay chỉ phục vụ bệnh nhân một thời gian rồi lại quay về Mỹ? Minh trả lời ngay với chúng tôi rằng anh “đã định cư ở đây”. Anh còn khoe đã được nhập hộ khẩu, được cấp chứng minh nhân dân và là người Việt Nam 100%.
(Ý kiến của Bs Phạm hữu Quốc, giám đốc Bệnh viện Q.Gò Vấp, TP.HCM): Mong cách làm việc bài bản này được nhân rộng 
Lúc nhận được đơn xin việc của bác sĩ Trần Hoàng Minh tốt nghiệp y khoa nước ngoài, tôi rất bất ngờ vì để tốt nghiệp bác sĩ ở nước ngoài rất tốn phí và cực kỳ khó khăn, nhất là tại Mỹ.
Nếu làm việc tại Mỹ, bác sĩ sẽ có thu nhập hàng chục ngàn đôla mỗi tháng. Vậy mà Minh đã về VN làm việc và không quan tâm đến mức thu nhập của mình cao hay thấp.
Trong thời gian làm việc hơn bảy tháng qua tại bệnh viện, tôi thấy Minh là một bác sĩ được đào tạo bài bản, làm việc rất có trách nhiệm.
Minh khiêm nhường, thân thiện với đồng nghiệp và đặc biệt rất yêu thương, tận tình phục vụ bệnh nhân. Minh luôn trăn trở để làm sao có thể điều trị bệnh nhân một cách tốt nhất để họ cảm thấy hài lòng nhất...
Minh có xin ý kiến tôi về một số quy trình thực hiện thí điểm tại khoa cấp cứu bệnh viện và việc nào cũng tốt cho bệnh nhân cả nên tôi đều đồng ý. Tôi mong cách làm việc của bác sĩ Minh sẽ được nhân rộng, lan tỏa tại Bệnh viện Q. Gò Vấp để bệnh viện luôn là một địa chỉ tin cậy, đáng tìm đến của bệnh nhân.
                                                                                                        THÙY DƯƠNG
                                                                                                 Nguồn: Tuổi trẻ Online