Cả Mõ

camoz77.blogspot.com/

08 tháng 9 2021

Phiếm luận: CÔNG NGHỆ “TÂN CỔ GIAO DUYÊN”

Nghe đến chuyện “số hóa” mọi thủ tục hành chính thì ai chẳng mừng. Vì nó đơn giản, đỡ mất thời gian lại quản lý tốt hồ sơ lưu trữ…

Nhưng với lão Ngưu thì chưa kịp làm được gì ở cái “số hóa” đã thấy rối rít như canh hẹ. Lão đi đến đâu cũng thấy mấy anh chị cán bộ dán mắt vào màn hình máy tính, mà cung cách làm việc vẫn chả khác là bao. Thậm chí có lúc còn lằng nhằng hơn kiểu cũ.

Thấy lão phàn nàn, thằng cháu ngoại bảo:

- Tại ông chưa có điện thoại thông minh thì làm sao mà thực hiện “số hóa” được!.

- Thế hả? - lão sáng mắt - Vậy thì mai ông cũng sắm cái điện thoại thông minh chứ sợ gì!

Hôm sau, lão mua hẳn cái Iphone mới coóng, nhờ thằng cháu cài cho mấy cái ứng dụng phần mềm. Nó bảo, ông nghỉ hưu rồi, sức khỏe là quan trọng nhất, cháu cài cho ông mấy cái phần mềm bảo vệ sức khỏe trước. Xong, nó chỉ cho đây là Bờ-Lu-Dôn để ông khai báo y tế mỗi khi đi họp này; còn đây là phần mềm Bảo hiểm Y tế để đi khám bệnh, không phải mang các thứ giấy tờ, sổ khám bệnh như trước nữa…

Ảnh: Minh họa từ Internet
- Ô, thế thì hay quá, ai bảo “số hóa” là không tiện!

Ngay hôm sau đi hội nghị các cụ, lão đến chỗ khai báo y tế, bảo:

- Tôi có Bờ-Lu-Dôn rồi, chỉ quét mã thôi nhỉ?

Chị cán bộ kiểm tra sức khỏe vui vẻ:

- Vâng cụ quyét mã QR đi ạ!

Lóng ngóng mãi lão mới dí được màn hình điện thoại vào trước cái mã vạch, mà đợi chả có thấy nó kêu “tít” như làm thử ở nhà!.

Chị cán bộ y tế ngó vào màn hình:

- Cụ không có 4G à?

- Sao phải 4G, ở nhà lão vẫn dùng Wifi mà ở đây cũng có sóng Wifi căng đét đây mà?

Chị ta cười, giải thích:

- Nhưng mà họ cài mật khẩu rồi, không vào được cụ ạ!

- Vậy thì chị cho tôi cái mật khẩu đi!

          - Dạ, cháu cũng không biết, chỉ bộ phận quản lý công nghệ thông tin họ mới biết mật khẩu thôi ạ!.

Dù đã thấy bừng bực, nhưng lão đành nói:

- Thôi, thì chị cho tôi khai bằng giấy đi vậy!

Hôm sau đi khám bệnh, lão lại khấp khởi mừng, chắc là khỏi phải mang sổ khám bệnh, thẻ Bảo hiểm y tế và chứng minh nhân dân nữa, tiện thật. Nhưng đến phòng khám lão mới ngã ngửa. Chị y tá bảo, cụ không mang sổ khám bệnh thì tìm đâu ra số hồ sơ, với lại còn có cái mà kẹp đơn thuốc chứ. Sau khi lật đật quay về lấy được sổ khám bệnh thì lão lại bị bắt lỗi là thiếu chứng minh thư với thẻ bảo hiển y tế.

Lão nhăn nhó:

- Sao bảo bây giờ có phần mềm “số hóa” rồi, chỉ cần mang điện thoại có cài ứng dụng là khám được?

- Vâng - chị y tá lại giải thích - đúng là như vậy, nhưng  có phải người bệnh nào cũng có 4G đâu, mà ở đây sóng Wifi vừa yếu, vừa không có mật khẩu nên không vào được mạng.

- Trời! - mặt lão Ngưu nhăn lại như táo bón - thế là mất bố nó nửa ngày mà không khám được bệnh

 Bước ra khỏi phòng khám, lão lầu bầu mà hình như chỉ để mình nghe được:

 -  Số với má cái con khỉ, công nghệ cái kiểu “Tân -cổ giao duyên” thế này thì có mà trở về thời “không chấm bốn”!.

       
                                                                                      
C.M 

20 tháng 6 2021

CHUYỆN TÔI LÀM BÁO

Một kỷ niệm khó quên, xin được kể lại nhân kỷ niệm
ngày truyền thống của báo chí cách mạng Việt Nam 

        Giữa thập kỷ 70 - vừa tốt nghiệp trung học chuyên nghiệp thì tôi được điều về công tác ở một huyện vùng thấp của tỉnh miền núi. Với nhiệt huyết tuổi trẻ, chỉ sau một thười gian đã được bầu giữ chức vụ phó bí thư chi đoàn Hành chính; Ủy viên BCH công đoàn cơ sở, phụ trách văn-thể và được xếp vào đối tượng phát triển Đảng của chi bộ. Do có một chút năng khiếu viết-vẽ nên còn được trực tiếp là “Tổng biên tập” tờ báo tường của Công đoàn. Phương ngôn có câu “Sinh nghề tử nghệ” - tuy không hoàn toàn đúng với tôi. Nhưng cũng vì tình yêu với nghề báo mà tôi đã gặp những rắc rối để đời – phải chăng đấy lại là lý do để tôi có quyết tâm trở lại với nghề báo sau này. 

          Ngày ấy dù chưa biết gì về báo-chí, nhưng tôi đã học cách viết tin, viết bài và cách trình bày tờ báo tường do mình phụ trách theo kiểu “mực hệt” từ mô típ của báo Tiền Phong, Báo Lao Động… Vì thế nên cũng được các anh, chị và các bạn trong cơ quan trầm trồ tán thưởng. Điều ấy càng tạo cho tôi cảm hứng, tập tọe viết tin, viết bài gửi cho đài truyền thanh Huyện. Thỉnh thoảng còn gửi tin và được báo tỉnh, đài tỉnh sử dụng. Mỗi lần nhận được tờ báo biếu có đăng hoặc được nghe giọng phát thanh viên đọc tin của mình viết là tôi mừng như mừng mẹ về chợ.

Ảnh minh họa (Từ Internet)

          Những năm đó đời sống của cán bộ, công chức, viên chức còn hoàn toàn phụ thuộc vào chế độ bao cấp. Mọi bảo đảm đều thể hiện qua các tờ tem, phiếu. Đời sống tuy kham khổ, nhưng vì ai cũng như ai nên mọi người vẫn cảm thấy bình thường. Thậm chí còn có cảm giác yên tâm, vì đã được nhà nước lo cho tất cả. Nói vậy, nhưng cũng không hẳn ở thời kỳ này không có vấn đề, mà theo cách gọi ngày nay là tiêu cực. Bởi hàng hóa thường khan hiếm, cho nên dù có tem phiếu nhưng các đối tượng thụ hưởng vẫn không ít lần phải nhận hàng phân phối chậm, thậm chí tem phiếu thịt, đường bị tồn ứ tới hàng quý mà vẫn không có hàng. Cầm chịch cho công việc phân phối lúc này đều tập trung vào mấy ngành như thương nghiệp, lương thực, thực phẩm...Vì vậy, đôi khi họ cũng tỏ thái độ quan liêu, cửa quyền gây nên những bức xúc cho công chúng. Để chống lại hành vi tiêu cực trong một bộ phận cán bộ, nhân viên nhà nước, Đảng và Chính phủ đã có chủ trương khuyến khích báo chí vào cuộc, phê phán những hiện tượng thiếu trách nhiệm, thiếu công bằng. Khẩu hiệu “Không sợ ít, chỉ sợ không công bằng; không sợ thiếu, chỉ sợ lòng dân không yên” được trương lên ở nhiều nơi. Nhưng không phải ở đâu và lúc nào cũng được người ta thực hiện như khẩu hiệu.

          Năm ấy, suốt từ đầu năm cho đến cuối tháng 6 trên địa bàn huyện không hề có đường bán phân phối theo tem phiếu. Mãi tới đầu tháng 7, đúng vào dịp nghỉ hè thì cửa hàng thực phẩm thông báo: “Đã có đường bán theo chế độ cho cán bộ, CNVC”, nhưng hạn phân phối chỉ thực hiện trong 3 ngày. Quy định như vậy, với điều kiện thông tin như ngày nay đã là khó, vì việc bán hàng cung cấp chỉ thực hiện ở cửa hàng thương nghiệp trung tâm huyện lỵ. Trong khi phương tiện thông tin cũng chưa thuận tiện như bây giờ; giao thông càng khó khăn - chưa kể các thôn bản vùng sâu thì còn có tới 30% trung tâm xã lên huyện vẫn chỉ là đi bộ. Thông báo bán hàng lại rơi vào dịp nghỉ hè nên nhiều giáo viên không nắm được thông tin, đành phải bỏ cả nửa năm tem phiếu. Bức xúc thay cho những người phải chịu thiệt thòi, tôi đã viết một bài phản ánh, nói lên sự bất công về cung cách phân phối hàng của cửa hàng thương nghiệp huyện, gửi cho báo Lao Động. Vì nghĩ rằng việc viết báo là bình thường trong quyền tự do báo chí của công dân, mặt khác những phản ánh của mình cũng hoàn toàn là sự thật. Ngại ra bưu điện nên tôi gửi luôn bài viết qua hòm thư công văn của cơ quan. Nhưng không ngờ bài báo không những không được gửi đi mà bị một vị có chức sắc lấy nộp cho ông quyền chủ tịch huyện, với lý do: “xem cậu này nó viết cái gì”.

          Sau đó, giữa vị cán bộ văn phòng và ông quyền chủ tịch (với vai vế là bí thư đảng đoàn chính quyền) đã bóc bài báo ra đọc. Họ thống nhất với nhau rằng, bài báo viết về tiêu cực của địa phương mà chưa thông qua lãnh đạo đã tự tiện gửi cho báo Trung ương. Như vậy không chỉ là nói xấu ngành cung cấp mà còn bôi nhọ sự lãnh đạo của địa phương. Rồi cứ thuận với cái lý “nâng quan điểm” như vậy, hai vị lãnh đạo này mang bài báo ra mổ xẻ, gạch chân, đánh dấu chấm hỏi (?) bằng bút đỏ ở nhiều đoạn.

          Là một cán bộ trẻ vừa mới ra trường, công tác chưa bao lâu nên tôi vô cùng hoang mang, lo lắng. Sự việc không biết sẽ bị đẩy lên đến mức nào, nếu không có sự can thiệp kịp thời của Ban chấp hành công đoàn.

          Với tư cách quyền chủ tịch, kiêm bí thư đảng đoàn chính quyền- ông Nguyễn Công D. đã chỉ thị cho Ban chấp hành công đoàn đưa tôi ra để kiểm điểm về hành vi thiếu ý thức tổ chức, đưa những thông tin tiêu cực lên báo mà chưa được phép của lãnh đạo. Ban chấp hành công đoàn cơ sở được triệu tập - tuy nhiên, thay vì việc kiểm điểm thì đồng chí thư ký công đoàn sau khi xem nội dung bài viết, đã khẳng định đây là một phản ánh hoàn toàn đúng sự thật, không có gì là bêu xấu địa phương hay làm ảnh hưởng đến uy tín lãnh đạo. Rồi tập thể BCH công đoàn cơ sở đã nhất trí chuyển nội dung bài báo cho phòng thương nghiệp (Cơ quan quản lý các hoạt động thương mại và các đơn vị cung cấp nhu yếu phẩm của địa phương lúc bấy giờ).

          Điều đáng mừng là, sau khi xem công văn trao đổi của Công đoàn cơ sở UBND huyện có kèm theo bài báo, ông trưởng phòng thương nghiệp không những không bao che cho hành vi cửa quyền của cấp dưới mà còn hoan nghênh bài báo. Đồng thời xác nhận toàn bộ việc làm của cửa hàng thực phẩm là quan liêu, cửa quyền và yêu cầu phải giải quyết ngay toàn bộ những tem phiếu tồn đọng, bảo đảm quyền lợi cho cán bộ, công nhân, viên chức.

          Thế mới biết, không phải người lãnh đạo nào cũng có con mắt khách quan và giám nhìn thẳng vào sự thật, biết tôn trọng quyền tự do công luận như pháp luật đã quy định.

                                                                                                   Mạnh Nguyên 

10 tháng 6 2021

VÌ TIỀN?

(Hát xẩm)

Tiền vui, tiền khóc, tiền cười

Tiền nuôi tình cảm cho người ta yêu.
Vì tiền có lúc nói điêu
Để cho cửa nát nhà xiêu - Vì tiền!.
Họ hàng kẻ dưới người trên
Lộn tùng phèo bởi tranh tiền choảng nhau.
Anh em đốt trước đốt sau
Bỗng dưng xung đột vì đâu-Vì tiền!
Hai nhà sát vách, kề bên
Hằm hè móc xới, bới lên -Vì tiền!.
Tiếng đồn cha mẹ anh hiền
Tự nhiên cay độc? - Vì tiền mà ra.
Nghệ nhân, nghệ sĩ, danh ca…
Vì tiền bỗng chốc hóa ra “nghệ lừa”
Đóng thuê quảng cáo nói bừa
Vẽ đen ra trắng, nói trưa thành chiều.
Có tiền ghét cũng thành yêu,
Không tiền sinh sự đặt điều trái ngang.
Tiền còn bán chức, mua quan
Bất tài bỗng chốc sánh hàng khôi nguyên.
Đồng tiền biến cú thành tiên;
Kẻ tham điên đảo, người hiền u mê.
Ấy là nghiện bạc, say đề
Khuynh gia bại sản ra đê cắm lều.
Vì tiền còn biết bao nhiêu
Oan khiên, cay đắng khôn kêu thấu trời!
Đồng tiền chẳng nói nên lời
Cho nên tiền phải một đời chịu oan!?
                                   C.M

06 tháng 6 2021

LẠI BÀN VỀ HỌC THUYẾT “CHÍNH DANH”

 
    Chuyện xưa lại kể rằng, bà Huyện Thanh Quan (Nguyễn Thị Hinh) là một phụ nữ con nhà gia giáo, văn chương nổi danh và cũng đã có nhiều áng văn thơ để đời cho hậu thế. Ở dưới thời phong kiến thì đó thực là chuyện hiếm.
 
    Chồng bà - ông Huyện Thanh Quan (tên thật là Lưu Nghị, làm quan dưới thời vua Minh Mạng) cũng là một ông quan nổi tiếng thanh liêm. Dịp đó ở biên thùy có nạn giặc ngoại bang quấy nhiễu. Lệnh vua ban, quan Huyện phải cầm quân lên biên thùy dẹp giặc.
Quan quân thời Nhà Nguyễn (Ảnh T.L từ Internet)
 Vì tin vợ là người học cao, hiểu rộng nên ông Huyện đã giao luôn cho vợ giữ việc “nhiếp chính” thay mình. 
     Một hôm bà Huyện nhận được tờ đơn của một thiếu phụ, xưng là vợ lính. Chị ta trình bày rằng, chồng đi lính đã nhiều năm nay bặt vô âm tín, chẳng biết sống chết ra sao. Phận con gái “hoa nở có thì”, chị ta muốn xin quan được miễn tình thủ tiết để đi lấy chồng khác. Vì cũng là phận nữ nhi, lại không chuyên làm chính trị, nên bà Huyện động lòng trắc ẩn, mà hạ bút phê rằng: “Cho phép đi lấy chồng…”. 
    Ai ngờ vài năm sau, khi chiến sự vãn hồi, anh lính nọ không chết mà được thoái lính về quê. Về đến nhà anh ta mới ngã ngửa là vợ đã đi lấy chồng khác, mà việc đó lại do chính huyện quan cho phép. Bực tức trước sự bất công của nhà quan, anh lính liền đâm đơn kiện lên quan phủ. 
    Nhận đơn, quan phủ cho thanh tra và kết quả là đúng như đơn kiện. Vì vậy, ngài đã xuống lệnh cách chức ông huyện Thanh Quan, vì đã giao cho người nhiếp chính không hiểu việc nước mà làm sai!(1). 
    Ấy là chuyện của thời xưa, nay ngẫm lại thấy cũng không hiếm chuyện đời na ná. Đơn cử như việc làm từ thiện trong thời gian qua, mỗi khi đất nước gặp biến cố thảm họa, mặc dù đã có không biết bao nhiêu cơ quan, đoàn thể được giao làm công việc cứu trợ nhân đạo. Vậy mà vẫn có không ít người dựa vào uy tín cá nhân, cũng đứng ra huy động quyên góp, với danh nghĩa làm từ thiện. Tuy nhiên, do không chuyên nghiệp nên kết quả là có nhiều trường hợp cứu trợ chẳng kịp thời hoặc đưa vật chất cứu trợ đến không đúng địa chỉ, dẫn đến lãng phí và phản cảm. Hậu quả để lại biết bao nhiêu “tiếng bấc, tiếng chì”. 
    Ngẫm ra, thuyết Chính danh của Khổng Tử dù đã trải qua mấy ngàn năm mà vẫn còn nguyên giá trị. Theo Không Tử, “chính danh” có nghĩa là “danh nào, thì phận ấy”; “danh có chính thì ngôn mới thuận”. 
    Ở đời có khi cố làm việc tốt, nhưng làm không đúng lúc, đúng nơi; không đúng với phận sự của mình thì lại trở thành kẻ “bao đầu”. Mất công sức mà không đem lại tiếng thơm, thậm chí còn là những thị phi, tai tiếng. 

                                                                                                    C.M
         * (1) Câu chuyện có thể là hư cấu, theo dân gian truyền miệng.

29 tháng 5 2021

 Phiếm luận:

ÚM BA LA MAI TA CÙNG PHẤT

Quán mụ Béo ở đầu làng đón đúng hướng gió nồm nam nên cứ là mát như có quạt máy. Bởi vậy, trưa nào Lang Rận và kép Tư Nhãi cũng lân la ra hóng gió và nhâm nhi vài chén “cuốc lủi”.

Hôm nay cũng vậy, nhưng vừa tợp vài ngụm Lang Rận đã phàn nàn:

- Thời buổi dịch dã thế này làm ăn khó quá!

Tư Nhãi cũng tỏ vẻ chán nản:

- Đúng thế, nhưng nghề làm thuốc của ông còn lộp độp bữa đực bữa cái, chứ cái nghiệp kép hài của tôi thì  đúng là ế xưng ế xỉa.

Ảnh: Internet (chỉ có mục đích minh họa)
Thấy hai gã bộc bạch nỗi niềm, mụ Béo chen vào:

- Sao các thầy không tìm cách mà quảng cáo…

Mụ Béo chưa nói hết thì Lang Rận đã cắt lời:

- Đang rã họng ra đây, lấy tiền đâu mà thuê quảng cáo!

Mụ Béo phẩy tay:

- Đúng là lão cả tẩm, phải lấy mỡ nó mà rán nó chứ!

Cả Lang Rận và kép Tư Nhãi còn đang thộn mặt ra, chưa hiểu mụ Béo có kế sách gì thì Mụ đã cắt nghĩa rành rọt, đúng như một nhà kinh doanh thứ thiệt. Mụ bảo:

- Để có kinh phí, các thầy phải làm việc thiện, làm việc thiện bây giờ là “mốt” đấy. Mà với cái danh thầy lang và nghệ sĩ thì các thầy có cơ hô hào quyên góp quá đi chứ. Cứ lập trang Fanpage mà kêu. Thế là một công đôi việc, vừa nhận được tiền của các mạnh thường quân vào tài khoản, vừa nổi tiếng để quảng cáo cho thương hiệu của mình.

Kép Tư Nhã vẫn tỏ vẻ lăn tăn, gã rụt rè:

- Nhưng như vậy có “chính danh” không nhỉ. Làm từ thiện thì đã có các hội, đoàn chuyên nghiệp, mình ngoại đạo mà đi hô hào thấy nó sao sao ấy.

Lang Rận trừng mắt:

- Ngu!, chính danh với chính diếc cái gì. Vừa rồi chẳng có ối các ông nọ bà kia đi kêu, nhoảng một cái đã thu hàng chục tỉ, mà họ có chuyển cho địa chỉ nào đâu, ghim ở tài khoản, mỗi tháng tính sơ cũng có hàng chục triệu tiền lãi, lại còn nổi tiếng là làm việc thiện. Thôi bỏ bố nó cái thuyết chính danh đi cho tôi nhờ!. Mai ta lập Fanpage chung, cùng kêu gọi.

Nhấp thêm ngụm cuốc lủi, Tư Nhãi gật gù:

- Ừ, thì “Úm ba la, mai ta cùng phất” nhé!

Rồi hai gã khoác vai nhau cười ngặt nghẹo, đảo bốn cái chân theo nhịp “vắt sổ”, đứng lên:

- Cảm ơn mụ Béo!.

                                                                                 C.M                                                                                          

27 tháng 4 2021

 Phiếm luận

SẾP LÀ VẬY?


Lão Ngưu về hưu đã được mấy năm rồi. Cứ tưởng hưu là hết, khỏi phải bận tâm với bài vở, sách ốc, vậy mà gần đây cử thấy rộn lên là thi tìm hiểu đủ thứ. Hết là COVID, COVI nay lại đến tìm hiểu Nghị quyết Đại hội… Ừ thì thi, sợ gì!. Lần trước mấy đứa đưa tờ giấy trắc nghiệm, lão chẳng gạch ào mấy cái là xong, cứ đưa đây lão chấp hết!.
Nhưng lão Mõ lại bảo:
- Lần này khác, là thi trắc nghiệm trên phần mềm máy tính và điện thoại thông minh, không làm trên giấy đâu bố ạ!
Lão Ngưu tròn mắt:
- Làm trên máy là sao?
- Là làm bài thi trắc nghiệm trên phần mềm, đăng nhập qua máy tính hoặc điện thoại thông minh để làm bài!
Lão Ngưu gãi đầu:
- Thế thì tớ chịu, cứ nói đến cái món máy móc là hoa cả mắt!
Lão Mõ ngạc nhiên hỏi:
- Sao bảo hồi còn công tác, Lão là sếp, được trang bị hẳn một laptop xịn cơ mà!
- Ừ thì vậy, nhưng có bao giờ mình phải làm văn bản với khai thác phần mềm trên máy đâu. Những thứ ấy đã có nhân viên nó làm tuốt tuột, xong cái là chỉ việc ký.
- Vậy thì máy để làm gì? – lão Mõ lại hỏi.
Lão Ngưu phẩy tay:
- Để cho nó oách, lão không biết thời đó người ta bảo: “Không laptop thì bất thành thủ trưởng” à?. Còn rỗi thì chơi game, nghe nhạc, xem phim…Có ối thứ giải trí, chứ khai thác phần mềm với phần cứng làm gì cho mệt.
Lão Mõ ngẩn người, lẩm bẩm:
- Thì ra… Sếp của một thời là vậy!
C.M

24 tháng 11 2020

Phiếm luận: DU LỊCH KIỂU “TRẠNG LỘT”

 


          Mấy cụ hưu có thời gian rảnh rỗi rủ nhau đi du lịch. Họ bàn tính mãi, đi xa thì sợ sức khỏe không bảo đảm, mà đi gần thì không biết có gì hay không. Đang tranh cãi để chọn địa điểm đi cho thuận thì lão Ngưu ngồi gật gù mãi hàng ghế cuối bừng cơn ngủ gật, đứng phắt dậy lên tiếng:

          Các bố, các mẹ cứ bàn xa xôi làm gì cho mệt. Ở quê mình cũng nổi lên ối cái du lịch sinh thái hay đáo để. Sao ta không “Trâu ta gặm cỏ đồng ta cho nó khỏe”. Nghe có lý, mọi người đồng thanh nhất trí.

          Lão Mõ ra vẻ đi nhiều, hiểu rộng nên nhanh nhẹn đề xuất:

          - Tôi thấy cánh ta cứ đi khu sinh thái Thác Khỉ ở ngay xã Bản Phú huyện mình cũng được, nghe đâu nhiều đoàn đến lắm. Từ hôm khai trương đến nay, chưa kịp trương biển quảng cáo mà khách lớn, khách nhỏ cứ vào ra như mắc cửi. Chắc là đẹp lắm á!.

          Thế là cuộc bàn luận tìm nơi xả trét chóng vánh được thông qua.

          Ngay hôm sau các cụ thuê hẳn một chuyến xe hơn 50 số ghế, rồng rắn lên đường. Đoạn đường đến khu sinh thái chỉ 40 cây số, nhưng nhiều cua, xe cứ lượn như rắn bò. Thành ra chỉ nửa đoạn đường mà mấy cụ đã nôn vọt, ra cả mật xanh lẫn mật vàng. Túc tắc gần 1 giờ đoàn cũng đến được cổng “Thác Khỉ”. Các cụ dìu nhau xuống xe mà mặt mũi ai nấy đều xanh như đít nhái. Anh bảo vệ tung tẩy ra đón, chỉ dẫn cho trưởng đoàn vào lấy vé. Chưa biết xanh đỏ thế nào, nhưng mỗi vé người lớn đã mất 5 chục “K”, kèm trẻ nhỏ thì thêm 30K nữa. Lão trường đoàn chặc lưỡi:

          - Èo đắt nhỉ, chửa nhìn thấy gì đã mất bố nó nửa ngày lương hưu rồi!.

          Thông cảm với các cụ, anh Bảo vệ ghé tai cụ Tiều nói nhỏ:

          - Các cụ vào xem thôi nhé, chớ có ăn ở đây. Thức ăn của khu sinh thái này “mặn lắm”! – Hiểu ý anh bảo vệ tốt bụng, cụ Tiều nheo mắt gật gật:

          - Ừa ừa, cảm ơn cậu!.

          Trời nắng như đổ lửa, các cụ lẽo đẽo theo nhau đi ngó nghiêng lũ “Rì sọt” mà chả hiểu nó là cái nhà gì. Mặt mũi ai nấy đỏ phừng phừng, mồ hôi nhễ nhại. Lão Ất càu nhàu:

          - Đi mãi chẳng thấy thác, chắc đến được thác thì các cụ thành “Tú Mỡ” hết!.

          Nhưng rồi cũng đến. Mấy lão nheo nheo mắt hỏi:

          - Đã đến thác chưa?

          - Đến rồi đó!

          Mọi người nhìn theo tay lão Ngưu thì thấy một vách đá rêu phong, nước đang ri rỉ chảy xuống. Một người trong đoàn bạn ra vẻ am hiểu, giải thích:

          - Lẽ ra phải đến vào mùa mưa cơ, bây giờ sang mùa khô rồi, thác chỉ có thế thôi các cụ ạ.

          - Vậy mà sao nhiều đoàn đến tham quan thế nhỉ? – một người hỏi.

          Anh bạn trẻ đi cạnh giải thích thêm:

          - Vì là điểm mới nên mọi người chưa biết, ai cũng muốn đến một lần cho biết cụ ạ. Cũng như cái khu sinh thái Quang Quang ấy, lúc đầu chả đông như kiến cỏ, nay vắng teo như chùa Bà Đanh, cũng chỉ vì đắt khét, nghe đâu đóng cửa rồi.

          - À, à! - Lão Mõ buột miệng – Giống đi xen “Trạng lột” nhỉ. Nhưng ngày xưa Ông Trạng ông ấy chỉ làm có một lần, thu đủ tiền trả đò rồi nghỉ, chứ mấy anh du lịch  mà cũng học kiểu “trạng lột” thì chết non, chết yểu cũng phải!.

                                                                                           Cả Mõ

26 tháng 8 2020

NGƯỜI CÓ MỘ KHI VẪN CÒN ĐANG SỐNG

                           (Chút kỷ niệm về người thầy thuốc - Thương binh Hồ Sĩ Tuyển)

                                            Hồi ký của: Mạnh Nguyên

          Một thời báo chí đã tôn vinh cho anh là người có “đôi bàn tay vàng”, đó là Hồ Sĩ Tuyển, một thương binh – một cán bộ Y tế quê gốc Nghệ An. Nhưng anh đã dành trọn cuộc đời cho sự nghiệp chữa bệnh cứu người ở tỉnh Lào Cai và phục vụ trên chiến trường Nam Bộ.

Tốt nghiệp y sĩ, Hồ Sĩ Tuyển tình nguyện lên công tác ở Lào Cai từ những năm đầu thập kỷ 60 của thế kỷ trước. Năm 1968, khi chiến trường miền Nam đang bước vào giai đoạn khốc liệt nhất thì anh được điều động vào chiến trường. Dù vẫn khoác áo dân sự, nhưng những cán bộ y tế được điều vào B (chỉ mặt trận miền Nam hồi đó) được biên chế thành các đội phẫu, làm nhiệm vụ cữu chữa thương binh ngoài mặt trận.

Theo giai thoại của những người cùng thời thì Hồ Sĩ Tuyển là một cán bộ chuyên môn ngành y, nhưng lại rất say sưa với nghiệp văn chương. Chuyện kể rằng, khi vợ anh (Chị Nguyễn Thị Biên) sinh cháu đầu lòng đặt tên Hồ Sĩ Toại. Vì mới sinh, mẹ thiếu sữa nên cháu bé khóc suốt. Trong khu tập thể gần đó có bác sĩ Thu Lan - trưởng khoa Nhi, vì viêm họng nên cũng ho khục khặc. Khu sơ tán của bệnh viện không có điện, chỉ leo lét mấy ngọn đèn dầu, lại luôn phải sẵn sàng xuống hầm hào khi có còi báo động máy bay địch. Vậy mà Hồ Sĩ Tuyển vẫn vô tư tức cảnh ra mấy câu thơ, làm mọi người phải bật cười. Anh ứng khẩu đọc:

“Thiếu sữa mẹ Toại oe oe khóc,

Vắng hơi chồng Lan khúc khắc ho.

Xóm làng kẻ bực người lo,

Riêng bố cu Toại vẫn khò khò ngủ say!”.

Trong mấy năm chúng tôi học cùng chị Biên ở khóa Y sĩ 21 đã có chuyện không vui xảy ra. Tự nhiên mấy ngày liền không thấy chị lên lớp, nghĩ là chị ốm nên sau giờ học mấy đứa cùng tổ học tập rủ nhau đến hỏi thăm. Bước vào gian phòng trong ký túc xá le lói ánh đèn dầu, thấy chị ngồi trầm lặng, nhưng rõ ràng là chị đã khóc đỏ cả hai mắt. Gặng hỏi mãi chị mới nói:

- Chị buồn lắm, nhưng chuyện này chỉ nói để các em biết thôi, cấm được nói ra ngoài. Là anh Tuyển nhà chị đã hy sinh rồi! - Chị nói trong nấc nghẹn.

- Đã có giấy báo tử chưa mà chị biết? – một người trong chúng tôi hỏi lại.

Chị xua tay:

- Không, làm gì có báo tử, đêm qua chị nghe cái đài “Gươm thiêng Ái quốc”, trong mục “Sinh Bắc-Tử Nam” nó công bố: “Chuyên viên phẫu thuật Hồ Sĩ Tuyển, thuộc quân Bắc Cộng đã tử trận tại một trận càn ở phía tây Sài Gòn!”.

Thì ra là như vậy nên chị mới nhắc chúng tôi phải giữ kín, bởi ngày đó người ta cấm ngặt việc nghe đài địch.

Sau này, khi đã ra trường một thời gian, mỗi người chúng tôi về một nơi công tác. Một hôm, trên chuyến tàu từ thị xã Lào Cai về Bảo Thắng tôi đã tình cờ gặp anh Tuyển - tôi nhận ra anh vì nghe được câu chuyện anh đang kể cho một ai đó về những ngày bị địch bắt giam ở Sài Gòn, rồi sau chúng chuyển anh ra nhà lao Côn Đảo. Mãi tới ngày Hiệp định Pa-ri được ký kết, anh mới được trao trả tù binh ở bờ sông Thạch Hãn.

Chúng tôi nhận nhau là như vậy. Rồi tình hình biên giới có biến, tôi cũng vào bộ đội. Chiến tranh nổ ra, các nhân viên bệnh viện Lào Cai phải tản đi khắp nơi, chủ yếu là về Yên Bái. Riêng Hồ Sĩ Tuyển xuống bệnh viện Bảo Yên, khi chiến sự vãn hồi thì anh được điều về bệnh viện huyện Bảo Thắng. Là người có chuyên môn vững về ngoại khoa, lại được rèn luyện nhiều năm qua các chiến trường nên Hồ Sĩ Tuyển luôn là một trong những phẫu thuật viên “cầm dao chính”  ở các kíp mổ.

Được là đồng nghiệp với anh, tôi luôn cảm phục lòng yêu nghề và thái độ làm việc của Hồ Sĩ Tuyển - đó là sự tận tâm, là trách nhiệm của người thầy thuốc trước  bệnh nhân. Hồi ấy phương tiện khám, chẩn đoán bệnh đâu có được máy móc hiện đại như bây giờ. Thầy thuốc phải thăm khám bệnh chủ yếu trực tiếp bằng kinh nghiệm lâm sàng. Nhưng với Hồ Sĩ Tuyển, anh không bao giờ đưa ra quyết định khi chưa chắc chắn về chẩn đoán. Không ít trường hợp, dù đã khám đi khám lại nhiều lần, nhưng đến đêm, nằm vắt tay lên trán vẫn không thể ngủ nổi, vì chưa chắc chắn với chẩn đoán của mình. Thế là dù nửa đêm người thầy thuốc già ấy lại lọ mọ đến phòng bệnh để khám lại.

Ra khỏi bộ đội trở về cơ quan huyện, tôi và  Hồ Sĩ Tuyển được sinh hoạt cùng chi bộ, có dịp gần gũi nhau nhiều hơn. Rảnh rỗi anh thường tâm sự với tôi về những kỷ niệm vui buồn trong cuộc đời binh lửa. Tôi nhớ nhất là câu chuyện “Người có mộ khi vẫn còn đang sống” của anh. Anh kể:

 “Sau khi tập trung, biên chế thành các đội phẫu thuật, chúng tôi được điều vào mặt trận phía Nam. Vượt vĩ tuyến 17, ban đầu còn phục vụ ngay phía ngoài miền Trung. Rồi cứ vào sâu dần cho đến giáp Sài Gòn. Hôm ấy, trên địa bàn tỉnh Bình Dương, đội phẫu thuật đang mổ cấp cứu thương binh trong một lán bán âm thì địch càn đến. Chúng sử dụng nhiều loại pháo, cối hạng nặng bắn cấp tập vào hậu cứ của ta. Toàn bộ khu vực đắm chìm trong khói đạn. Lúc này không thể biết ai còn, ai mất, chỉ nhớ là mình vẫn đang làm việc trong kíp mổ thì một ánh chớp lóe lên, sau đó không biết gì nữa. Khi tỉnh lại đã thấy nằm trong một bệnh viện ở Sài Gòn, toàn thân đầy thương tích. Bàn tay phải không thể cử động được, sau mới biết xương đốt bàn ngón cái đã gãy lìa, vì ăn trọn một mảnh pháo”.

Sau khi được cứu chữa và điều trị ổn định các vết thương, địch chuyển anh ra nhà lao Côn Đảo…Và được trao trả tù binh vào giữa năm 1973.

Anh nói, việc đài địch đưa tin anh đã chết ở trận càn phía Tây Sài Gòn là chưa chính xác. Vì Binh Dương là ở phía Đông Sài Gòn – hay còn gọi là chiến trường Đông Nam bộ. Tuy nhiên, chuyện đưa tin anh đã chết thì rất có thể. Vì với một trận mưa pháo như vậy mà không chết mới lạ. Song, thực tế thì chuyện lạ ấy vẫn có thể xảy ra.

Sau này, khi có dịp đi công tác và quay lại thăm vùng đất “Chiến trường xưa”, Hồ Sĩ Tuyển đã ngỡ ngàng khi thấy ở Nghĩa Trang tỉnh Bình Dương có ngôi mộ đề tên “Liệt sĩ Hồ Sĩ Tuyển, Quê Nghệ An, hy sinh ngày…”.

Thì ra, sau trận càn của địch năm ấy, số đồng đội còn sống đã quay lại làm công tác tử sĩ, nhưng những người đã hy sinh không mấy người còn nguyên vẹn. Họ đành điểm số đồng đội mất tích, chia cho mỗi người một phần thi thể gom nhặt được, chôn cất và ghi thành bia mộ, có ai mà biết được anh vẫn đang sống và bị địch bắt, giam cầm.

Tôi viết lại câu chuyện này coi như một nén tâm nhang cho người đồng nghiệp – người bạn vong niên tài hoa và đức độ, nay anh cũng đã đi về cõi vĩnh hằng!.

                                                                          Phố Lu, tháng 7 năm 2020

Phiếm luận:
THỜI SÁNG KIẾN
Bố cu Tũn được dân tín nhiệm bầu vào chức trưởng thôn đến 3 nhiệm kỳ liền, kể cũng đã là vinh dự lắm. Vậy mà Gã vẫn thấy chưa hài lòng với chính mình, bởi lần nào đi họp xã cũng thấy lãnh đạo biểu dương các thôn khác có sáng kiến này, sáng kiến nọ, đâm ra hậm hực.
Thế là mấy tuần nay, ngoài những lúc phải đi họp xã, giải quyết sự vụ trong thôn thì bố Tũn quyết đóng cửa để nghiên cứu sáng kiến. Gã dặn vợ:
- Từ nay mẹ Tũn cấm sai vặt, để tao còn dành thời gian nghiên cứu sáng kiến. Chứ cứ để mấy tay trưởng thôn khác năm nào cũng được biểu dương thì ức lắm.
Hình minh họa từ Internet
Đợi mãi mà chẳng thấy bố Tũn công bố kết quả, mà việc nhà thì ùn lên. Từ đón con, chăm lợn gà, giặt dũ, cơm nước gã đều thoát ly hết, mặc cho vợ. Tức nước thì vỡ bờ, mẹ Tũn cằn nhằn:
- Bố mày nghiên cứu cái gì mà việc nhà ùn lên cả đống chẳng có người làm. Từ nay khỏi phải sáng kiến, sáng cò làm gì cho mệt. Đến cấp Trung ương kia còn chẳng ăn ai nữa là cái chức đầu binh cuối cán như ông…
Mẹ Tũn còn chưa kịp nói hết thì bố Tũn đã trừng mắt quát:
- Đàn bà biết cái gì mà bàn việc đại sự. Thời đại Bốn chấm không rồi mà không có sáng kiến thì bao giờ mới bắt kịp được với xã hội.
Nhưng lần này mẹ Tũn cũng chẳng vừa, mụ chống nạnh gắt:
- Vâng! Nhưng mà tôi hỏi ông, muốn có sáng kiến, người ta cũng phải học hành tử tế. Ông mới học hết lớp 4 trường làng thì sáng kiến với sáng cò cái gì. Mà tôi nói ông biết nhé, sáng kiến - đổi mới đâu phải bao giờ cũng tốt đẹp. Ngày xưa tôi thấy có công trình của ông kỹ sư - tiến sĩ gì ấy, công bố là “đãi phân gà để nuôi lợn”,  “ ăn ngô bổ hơn gạo”, “ngọn sắn bổ hơn rau muống”; rồi “sửa Quốc ca”, cắt bớt móc chữ viết… nhưng rồi mấy cái sáng kiến ấy đều chìm xuống hết cả. Gần đây lại rộ lên là cải cách chữ Quốc ngữ, bật đèn xe cả ban ngày, thu phí rác tính bằng cân…Mà đấy là cấp trung ương, toàn giáo  sư-tiến sĩ họ nghĩ ra còn bị “ném đá” túi bụi. Thôi xin ông, nhà này không có “mộc” để chắn “đá ném” đâu nhá, ông đừng có mà nghĩ ra mấy cái trò dở hơi, rồi “Lợi thì chưa thấy mà răng chẳng còn”!.
Nghe mẹ Tũn xả một hồi, ngẫm cũng có lý, bố Tũn đành gãi tai chống chế:
- Thì mẹ mày cứ để tao thử, chửa gì đã toàn chỉ có bàn lùi!.
                                                                           C.M

12 tháng 4 2020

Phiếm luận:

SÀNH ĐIỆU KIỂU “LAI –TRIM”

          Cuối năm ngoái cậu con trai đi Tây về biếu lão Ngưu cái điện thoại thông minh, nhưng từ hôm nó cho, lão thấy cũng chẳng khác cái “cùi bắp” cũ của lão. Chỉ có gọi và  nghe, rồi lại nghe và gọi.
          Mãi đến sau tết vừa rồi, nghỉ học vì dịch COVID, thằng cháu ngoại mới hướng dẫn Lão vào mạng, lúc đầu thấy rối tinh, rối mù. Nhưng dùng mãi cũng quen, xong nó còn lập cho Lão cái ních Fây, lấy tên là “Hót hót”. Nó bảo:
          - “Hót hót” là liên tục đưa tin mới lên trang. Thế mới gọi là sành điệu!.
          Ừ đúng, Lão mới vừa đưa cái tin đổ ô tô ở đầu cầu Mới. Tin thì có thật, nhưng Lão “chua” thêm vào là tay lái xe phê ma túy, làm lật xe rồi bị kẹt trong ca-bin, phải đục cửa mới lôi được ra để đưa đi cấp cứu! Thế là chỉ vài phút sau một đống người vào xem, bình luận, chia sẻ. Thấy cứ là khoái tỉ cả người!.
          Hôm sau, lão Ngưu đưa tiếp vài tin “hót” nữa, cũng là có ít suýt ra nhiều, chuyện nhỏ vẽ cho thành chuyện lớn. Vậy mà đông người vào xem, bình vui đáo để. Thấy Lão đưa nhiều tin “hót”, người ta đua nhau kết bạn. Còn có cả mấy em mắt xanh, mỏ đỏ nữa. Kết thì kết, càng nhiều bạn càng dễ câu cái “viu”, cái “lai” gì đó, nghe nó “tây, tây” cũng khoái.
          Thằng cháu khen: Ngoại giỏi thật, tiếp cận công nghệ “Bốn chấm không” nhanh hơn cả bọ trẻ. Lão chả hiểu cái món “chấm không” với “chấm có” là gì, nhưng được khen là sướng tửng lên rồi. Nó còn bảo:
          - Bậy giờ mốt mới là phải “Lai-Trim” mới sành!
          Lão ngơ ngác hỏi lại:
          - Lai trim với lai bướm là cái giống gì mà sành?
          Thằng cháu cười hí hí:
          - Là truyền hình trực tiếp đấy ngoại!
          Thế á, trực tiếp thì sành điệu thật. Mấy ông truyền hình cấp quốc gia mới làm được, thế mà mình cũng biết làm thì chả sành điệu là gì. Nghĩ vậy, Lão bảo thẳng cháu dạy luôn. Hôm nay Lão quyết tâm cho ra mẻ sản phẩm đầu tay.
          Nhưng “lai trim” cái gì nhỉ, Lão mở mấy cái nick hay có “lai trim” ra để tham khảo. Thấy bình thường, chỗ thì đang “lai trim” ăn khoai nướng, ốc luộc; chỗ thì đánh ghen; chỗ lại “lai trim” hát caraoke, ừ thì cũng có người hát hay, nhưng không ít anh nghe cứ ổng ổng như “chó đái tàu cọ”… Hay nhất chỉ là có mấy em mập ú, chẳng làm gì cứ vạch áo, kéo váy lên thật cao, soi khắp người cho thiên hạ chiêm ngưỡng. Lão lẩm bẩm, truyền hình trực tiếp mà thế á, nhàm! Phải làm cái gì “hót, hót” chứ.
          Đúng rồi, thời sự nhất bây giờ là vụ chiến đấu với cái anh COVID. Thế là lão nẩy ngay ra “kịch bản hót” về chủ đề này. Lão "cóp" mấy cái ảnh toàn người mặc quần áo bảo hộ “at” vào trang cho sống động, rồi ghé mặt vào video, nói một mạch như M.C thứ thiệt:
          - “Tin khẩn đây, ở xón B. xã S. vừa phát hiện 2 trường hợp dương tính với COVID 19. Đây là 2 người đi Tây về, liên quan còn khá nhiều người tiếp xúc trong khu vực... Hiện đã có lệnh phong tỏa cả xóm B. Alô, alô!”.
          Tin vừa phát lên đã có hàng trăm lượt xem và hàng chục lượt chia sẻ. Lão khoái quá, bụng bảo dạ. Mai ông lại “lai trim” vài tin “hót” mới. Cái gì chứ tài bịa thì lão Ngưu này là số một.
          Đang say sưa với thành quả “Bốn chấm không” thì thằng cháu chạy hớt hải từ cổng vào gọi:
          - Ngoại ơi, có mấy chú công an đến tìm này!.
          Lão Ngưu giật thót, chẳng hiểu mô tê ra sao thì đã bị mấy chú công an yêu cầu lên xã để giải trình việc phao tin thất thiệt, gây nhiễu loạn cộng đồng.
Bây giờ ngồi nghe mấy chú công an giải thích, lập biên bản và yêu cầu Lão nộp phạt vì tội phao tin bịa đặt, làm ảnh hưởng đến công tác phòng-chống dịch. Mặt lão méo xệch, Lão lẩm bẩm:
- Các cụ nói phải, là “chó dại có mùa, còn người dại thì đến già vẫn dại”!.

                                                                                           C.M 

04 tháng 4 2020

HỊCH CHỐNG DỊCH COVID-19

(Xin cáo lỗi cùng nguyên tác)
------------------
            Ta thường nghe những căn bệnh tứ chứng nan y, bệnh kinh niên khó chữa như phong – hủi hiện đã bị loại trừ; trực khuẩn lao đã có phác đồ trị dứt; lậu, giang mai, đậu mùa, thổ tả, sốt rét kinh niên…cũng đã không còn sức hoành hành vô phương cứu chữa như xưa. Mười bảy năm trước dịch Sars gây kinh hoàng, nhưng vào đến đất nước ta, chỉ 45 ngày là bị hoàn toàn tiêu diệt. Thành quả ấy là có sự chung tay góp sức của biết bao thế hệ đã dày công nghiên cứu, thậm chí đã không ít người bỏ mạng hy sinh để giành lại sự sống cho bệnh nhân và an toàn cho đất nước. Các bậc thầy giỏi, thợ tài và những nhà hảo tâm thì thời nào cũng có. Ví thử ai cũng khư khư theo thói thường tình thì chắc sẽ chết hoài cùng dịch bệnh, còn đâu mà ở lầu cao, nhà rộng, đi xe xịn với đầy đủ tiện nghi?.
Nay các ngươi vốn dòng dõi con Lạc, cháu Hồng lại không hiểu được nhân tình thế thái. Nghe chuyện dịch dã hoành hành còn cứ tưởng ở đâu xa, thậm chí có chỉ đạo chống dịch của cấp trên mà vẫn nửa tin nửa ngờ. Nay ta lấy chuyện dịch Sars năm xưa  mà nói, nhiều nước tây Âu có trình độ phát triển cao cũng bị liêu xiêu hoảng loạn. Qua 37 quốc gia, vào đến Việt Nam Sars (Tử thần mang hình thù vương miện) đã làm 63 người mắc, trong đó 5 Bác sĩ, y tá đã hy sinh để cứu tính mạng bệnh nhân. Thật là đau xót, nhưng cũng khiến cho tên tuổi họ rạng danh, mà lưu truyền tiếng tốt.
Thôi thì việc trước đó ta hãy tạm không bàn, nay lấy chuyện con COVID-COVI đang khuynh đảo toàn thế giới, gõ cửa đến tận từng nhà. Biết bao nhiêu thầy thuốc, tình nguyện viên lại tiếp tục xông vào chốn “lam chướng” hiểm nguy để chống chọi với tử thần.
Huống chi ta và các người cùng đang gặp phải mùa dịch hoành hành của Sars COVI 2, nhìn rõ sự nguy hại nghênh ngang đã trải khắp ba Miền. Đem thần chết rắc gieo từ đô thành đến vùng sâu thôn bản. Mỗi ngày qua là số ca dương tính lại tăng lên,  có khác nào luỡi hái tử thần cứ lắm le cứa cổ chẳng từ bỏ một ai.
Các lãnh đạo Trung ương tới bữa quên ăn, nửa đêm vỗ gối, ruột đau như cắt, nước mắt lưng tròng, chỉ một dạ một lòng cho an toàn cuộc sống và sức khỏe nhân dân. Hàng trăm ngàn chiến sĩ bộ đội, công an tình nguyện nhường nơi ăn chốn nghỉ, sống cuộc sống lán trại, dầm nắng dãi mưa nơi rừng sâu muỗi vắt để các ngươi có nơi cách ly và điều trị được an toàn.
Còn biết bao doanh nghiệp “mạnh thường quân”, bao tấm lòng yêu thương nghĩa cử của người dân đã góp của, góp công cùng Nhà nước quyết tâm ngăn đại dịch.
Các ngươi phần lớn được tạo điều kiện ra nước ngoài để học tập, làm ăn, có cuộc sống đàng hoàng hơn bao người khác. Nay không may vì tránh đại dịch mà phải quay về, được Tổ quốc, đồng bào cùng dang tay đón nhận. Không có chỗ ở thì được nhường chỗ ở; đồ sinh hoạt, ăn uống thì được cung phụng đến tận nơi, được trang bị tiện nghi cho cuộc sống không khác người thường. Việc cách ly tạm thời cũng là để bảo đảm an toàn sức sức khỏe cho chính các ngươi và phòng lây lan dịch bệnh ra cộng đồng xã hội. Ấy là việc nên làm và phải làm không cách nào khác được.
Vậy mà, trong các người không ít kẻ được nghỉ ngơi, được ngồi chơi xem ti vi, lướt web… Nhìn lãnh đạo với đồng bào chật vật mà chẳng biết lo, còn ngoác mồm chửi bới lại tổ tông nguồn cội; còn đòi hỏi tiện nghi hơn mà không biết thẹn. Làm doanh nhân mà không biết lo đóng góp cho ngân sách quốc gia, chỉ ham chơi bời rềnh rang, sa đọa rồi tha dịch về nhà. Có kẻ tính đường sản nghiệp mà quên trách nhiệm với Tổ quốc, với đồng bào. Không ít kẻ còn cố tình khai man, dấu dịch; trốn khỏi chốn cách ly, gieo rắc mầm bệnh hiểm nguy ra ngoài xã hội.
Khi dịch ở xa, mối nguy chưa lớn thì vẫn phải đề phòng, nhưng không vì thế mà trỗi lên lòng cá nhân vị kỷ; bịt mắt, bưng tai không chịu nghe chỉ đạo, chỉ nhăm nhăm tranh cướp, vơ vét hàng tích trữ. Hùa theo hiệu ứng “đám đông” làm hỗn loạn thị trường.
Nếu tình trạng giặc COVIT-COVI tràn lan, mất kiểm soát như Trung Quốc, Mỹ và các nước Châu Âu, thì lúc ấy an toàn sức khỏe của cả ta và các ngươi đều không còn gì bảo đảm. Chẳng những ta cũng bất lực, bị dịch bệnh bao vây mà tính mạng của các người, người thân của các ngươi cũng khó bề thoát chết. Lúc bấy giờ dẫu các ngươi có vàng trăm, bạc tỉ, muốn vui chơi đua đòi, muốn tiện nghi sang trọng phỏng còn có được chăng?
Nay ta bảo các ngươi nên lấy việc lợi ích của toàn dân làm trọng; phải coi ích kỷ, vị mình là mối hại làm nguy; lấy điều ngu muội, lợi ích cá nhân mà làm sợ!
Nếu những điều ấy không chịu làm thì rồi đây khi dẹp tan dịch bệnh. Các ngươi sẽ để thẹn đến muôn đời. Há còn mặt mũi nào mà đứng trong cõi trời che đất chở này nữa.
Cho nên bài hịch này là để các ngươi sáng mắt ra, tự kiềm chế lòng tham, tính ích kỷ nhỏ nhen, để tiếp tục cùng toàn Đảng, toàn dân chống dịch!.
                                                                                       C.M 
                                                          (Dựa theo văn Hịch của QCTC Trần Quốc Tuấn)




19 tháng 3 2020

CUỘC SỐNG VÙNG MIỀN

Chẳng phải đi xa ra thế giới, mà chỉ đến một số nơi trên đất nước ta đã có thể khai thác được nhiều sự khác biệt về cuộc sống và tập quán của mỗi vùng, miền.

             Nếu như người miền Bắc rất kỵ với việc để mộ phần ở gần nhà và còn cho rằng, có hài cốt trong nhà là đất nghịch. Mỗi khi thầy địa lý phán dưới nền nhà có hài cốt là người ta phải tốn kém không biết bao nhiêu công sức để khai quật. Có khi tìm mãi chỉ thấy được đám đất đen, đất khác mầu thì cũng coi như đó là hài cốt của người chết lâu năm đã phân hủy. Vậy là bốc di dời đi chôn cất nơi khác và thắp hương, lễ tạ xong mới yên lòng.
          Vậy mà trong chuyến đi “Xuyên Việt” năm 2014, sau khi qua thành phố Cà Mau, đến huyện Năm Căn - huyện gần cuối của cực nam Tổ quốc thì lại thấy ở đây người ta vô tư sống chung cùng nghĩa địa. Xe đến gần huyện lỵ Năm Căn (Không nhớ rõ địa danh) thì bắt gặp một nghĩa địa khá lớn. Từ trên Quốc lộ nhìn ra xa, thấp thoáng như có nhiều ngôi nhà được xây ngay trong nghĩa địa. Tôi hỏi anh lái xe - người địa phương:
          - Mấy nhà kia như ở giữa nghĩa địa hả anh?
          Người lái xe gật đầu:
         - Đúng đấy, nhà ngay trong nghĩa địa mà. Lát nữa anh sẽ thấy!
Không phải đợi lâu, chỉ vài phút sau xe chúng tôi đã tiếp cận với một nghĩa địa nằm sát vệ  đường. Hàng loạt các ngôi nhà dân kề sát ngay bên lề nghĩa địa, nhà nào cũng có vài ngôi mộ xây lừng lững ở xung quanh. Thậm chí một vài gia đình còn xây mộ phần xếp hàng ngay trước cửa, chỉ chừa lại mỗi lối đi vào cửa chính, đủ dắt một chiếc xe máy. Ngồi trên xe, tôi đưa máy ảnh chụp vội mấy tấm hình, nay vô tình lại tìm thấy trong máy tính.
Sau này có đọc được một bài viết tựa đề “Tục chôn người chết trong nhà ở Cà Mau” tôi mới hiểu thêm, tục này đã được lưu truyền lâu đời ở khu vực rừng U Minh Hạ. Nó xuất phát bởi nỗi lo chôn người chết xa nhà thì thú rừng có thể moi mất xác. Mặt khác, chôn người đã khuất ở gần nhà còn là “để được nhìn thấy người chết hằng ngày và ngược lại các linh hồn cũng được chứng kiến sự thay đổi của con cháu, làng bản”.
Ngày nay, với phong trào xây dựng nông thôn mới, có lẽ các địa phương cũng cần vận động người dân từ bỏ tập quán sống chung với mộ phần, nhằm bảo đảm vệ sinh, sức khỏe và đáp ứng yêu cầu văn minh của xã hội.
                                                                                    C.M 

10 tháng 3 2020

Phiếm luận: HỘI CHỨNG THỜI COVID

           Mấy hôm nay rộn lên là cái con Cô-Vít, cô-vi gì ấy, nó đã về đến tận đầu làng. Người ta bảo con Lụa nhà ông H, thằng Tèo nhà ông V là cái giống F0. Nhằng một cái, chẳng biết chúng nó giao cấu, giao hợp kiểu gì mà ra cả một lũ F1, F2, F3…Nghe mà cứ sốt lên sùng sục.
Sáng nay bố Hĩm định bụng ra quán bà Béo ăn bát mì tôm. Vừa bước chân ra cửa, mẹ Hĩm đã gọi giật lại:
- Ông có đi thì lấy cái khẩu trang bưng miệng lại hộ tôi, thấy bảo con Cô – vít nó về đến cổng làng rồi đấy!.
Ra đến cổng làng, đập vào mắt là khung cảnh nháo nhác, người nào người nấy mặt mũi kín mít, chẳng nhận ra ai. Kẻ thì vác bộ, người lại thồ xe cứ ùn ùn là mì gói, thịt, gạo...chẳng khác gì chạy loạn. Bố Hĩm chặn một người lại hỏi:
- Làm gì mà mua lắm đồ thế?
Anh minh họa trên Internet
Người ấy không nói gì, chỉ giơ tay làm hiệu rồi đi thẳng…chả còn hiểu ra sao. Bước vào quán mụ Béo, quán trống huơ trống hoác, chẳng còn hàng gì. Mụ Béo thì đang ngồi đếm tiền, cười tít mắt, mụ lẩm bẩm:
- Hết bố nó hàng rồi, cảm ơn con Cô-vít!.
- Thế là sao hả Mụ?- bố Hĩm ngơ ngác hỏi.
Mụ Béo lại cười hềnh hệch:
- Là nhờ con Cô-vit chứ sao! Chửa thấy dịch đâu mà thiên hạ đã lũ lượt kéo nhau ra khuân hàng về tích trữ. Được thể thế tội gì Béo này chẳng chém. Từ sáng đến giờ “chém” thật lực, giá bán nâng đến gấp 3, 4 lần mà vẫn hết sạch.
À ra thế! - Rồi bố Hĩm nói thêm:
- Tích trữ hàng làm gì chứ?. Thấy trên đài họ bảo, dù phải phong tỏa như ở phố “Trúc Bạch, Hà Nội” thì Nhà nước vẫn đảm bảo đủ hàng đến tận nơi cho dân. Có thiếu gì đâu mà phải tích trữ?.
- Thế mới ngu, vừa nhát lại vừa ngu! – mụ Béo nói thêm – cứ tích đẫy vào, không có phương tiện bảo quản chỉ tổ nuôi chuột với để mốc chứ báu gì. Nhưng họ muốn vậy thì tội gì Béo này không chém cho đã!.
Thế mới biết, “Hội chứng đám đông” còn tạo nên hiệu ứng vừa đáng thương mà cũng thật khôi hài!.

                                                                                         C.M 

26 tháng 2 2020

XỨNG ĐÁNG VỚI DANH HIỆU NGƯỜI THẦY CAO QUÝ

(Bài viết nhân kỷ niệm 65 năm, ngày thầy thuốc Việt Nam)

          Từ cổ chí kim trong xã hội không thiếu các loại thầy. Nhưng chỉ có 2 người thầy là ở thời nào được cũng tôn vinh và trọng vọng. Đó là thầy giáo - người truyền thụ kiến thức và thầy thuốc - người chữa bệnh, đem lại cuộc sống và giảm bớt nỗi đau cho nhân loại.

        Nhân kỷ niệm ngày 65 năm, ngày “Thầy thuốc việt Nam” xin được có đôi điều về những người thầy khả kính này. Từ hàng ngàn năm về trước, những vị thầy được coi là mẫu mực nghề như Hypocrate (460-370 TrCN) – người hành nghề y ở phương Tây. Ông đã tự đặt ra cho mình 8 lời thề, được tóm tắt lại như sau: Thứ nhất, là phải coi trọng thầy dạy mình như cha, như mẹ; dạy cho các môn đệ của mình cam kết thực hiện hành nghề đúng Y luật. Hai là, mọi hoạt động của người thầy thuốc chỉ trên hết vì mục đich có lợi cho người bệnh; không bao giờ làm điều xấu với họ. Ba là, không bao giờ dùng y thuật để làm hại sinh mạng người khác, dù đó là yêu cầu của chính họ. Bốn là, luôn giữ thái độ vô tư, ân cần, thương yêu với người bệnh. Năm là, không bao giờ làm những thủ thuật quá với khả năng của mình, nếu cần thiết phải làm thì nên nhờ người có chuyên môn sâu trợ giúp. Sáu là, không phân biệt đối tượng người bệnh, với bất kỳ ai cũng chỉ vì lợi ích cho họ mà làm; tránh hành vi xấu xa, đồi bại - nhất là với phụ nữ và trẻ em. Bảy là, tuyệt đối giữ bí mật cho bệnh nhân, coi sự im lặng, kín đáo cho những riêng tư của người bệnh là một nghĩa vụ. Điều thứ tám, Ông dành riêng cho mình, là thề trung thành tuyệt đối với những điều trên, nếu vi phạm sẽ bị trừng phạt với cả luật đời và luật trời!.  

Hải Thượng Lãn Ông -Lê Hữu Trác

Ở Việt Nam, chúng ta tự hào có Hải Thượng Lãn Ông - Lê Hữu Trác (1720 – 1791) – là một trong những điển hình danh y của phương Đông. Ông là một danh y nổi tiếng về y thuật, mẫu mực về đức độ - lòng nhân. Ngoài vốn kiến thức siêu phàm và đồ sộ, ông cũng còn để lại cho hậu thế 10 điều căn dặn. Mười điều ấy được tóm gọn lại cũng là những điều răn về đạọ đức hành nghề. Đó là, người làm nghề chữa bệnh cần phải có kiến thức sâu rộng để tiếp thu y thuật; phải ưu tiên người bệnh nặng chứ không vì giàu sang hay nghèo hèn. Giữ thái độ đứng đắn khi xem bệnh cho người khác giới. Không thờ ơ, mảng vui mà quên trách nhiệm chăm sóc người bệnh – nhất là người bệnh nặng. Gặp ca bệnh hiểm nghèo phải hết sức mình cứu chữa, nhưng cũng cần thông báo tiên lượng cho gia đình người bệnh trước khi quyết định chữa trị. Dùng thuốc phải lựa chọn để chi phí không cao nhưng bảo đảm hiệu quả; tuyệt đối không vì ham rẻ mà dùng thuốc kém chất lượng. Với đồng nghiệp, tuyệt đối không kiêu ngạo, cần khiêm tốn học tập người giỏi hơn và sẵn sàng chia sẻ  kiến thức cho người có chuyên môn thấp hơn mình. Đối với người có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn càng nên quan tâm chăm sóc, thậm chí còn tùy khả năng mà chu cấp thêm tài chính, vật chất cho họ để việc chữa trị được hiệu quả. Chữa bệnh cho người tuyệt đối không mưu cầu quà cáp, ban ơn; phải trung thực, không vì vụ lợi mà bệnh nhẹ nói là bệnh nặng để vòi tiền.

Người còn nói: “Đem nhân thuật làm chước lừa dối, đem lòng nhân đổi lấy lòng buôn bán. Như thế thì người sống trách móc, người chết oán hờn, không dễ tha thứ được!”.

Ngày nay, đội ngũ thầy thuốc của chúng ta hầu hết đều được đào tạo rất chu đáo. Người vào học ngành y được xác định mục tiêu là phải “Vừa hồng, vừa chuyên”. Hồng ở đây là đạo đức cách mạng – là lòng nhân của người thầy thuốc; chuyên là giỏi về nghiệp vụ chuyên môn. Những năm gần đây bộ Y tế cũng đã ban hành chuẩn mực đạo đức của người hành nghề y, bằng “12 điều y đức”. Đó cũng là sự kế thừa và phát huy các chuẩn mực y đức của người xưa. Trong giới thầy thuốc đã có biết bao nhiêu người xứng với danh hiệu cao quý, như: Anh hùng lao động GS Tôn Thất Tùng; Anh hùng lao động: GS Trần Hứu Tước; Anh hùng lao động: Bác sĩ - bộ trưửng bộ Y tế: Phạm Ngọc Thạch…Và có hàng trăm người được phong các danh hiệu thầy thuốc nhân dân, thầy thuốc ưu tú.

Thành tựu về công tác chăm sóc, bảo vệ sức khỏe nhân dân liên tục được nâng lên. Nếu như sau Cách mạng tháng Tám tuổi thọ bình quân của nước ta mới chỉ là trên 30 thì đến nay đã nâng lên 73,6 tuổi. Thành quả đó có phần đóng góp rất căn bản của ngành Y tế.

Các loại dịch cổ điển được coi là hiểm họa với loài người như đậu mùa, dịch hạch, dịch tả, dịch thương hàn và những căn bệnh “Tứ chứng nan y” như Phong (hủi), Lao, Cổ (Cổ trướng do xơ gan), Lại (Ung thư), thì ngày nay 2 bệnh phong và lao đã cơ bản được loại trừ, không còn trong danh sách nan y nữa.

Gần đây, những vụ dịch do các chủng siêu vi mới phát sinh, cả thế giới phải bàng hoàng như dịch Sars năm 2003, trong đó nước ta cũng đã có tới 5 cán bộ y tế hy sinh vì làm nhiệm vụ cứu chữa người bệnh và chống dịch. Nhưng chỉ sau 45 ngày chiến đấu với đại dịch nguy hiểm này, chúng ta đã là nước đầu tiên chiến thắng dịch Sars. Giờ đây giữa cuộc chiến với dịch Covid-19, ở Việt Nam cũng đang có những chuyển biến rất tích cực. Tính đến sáng ngày 25/2/2020, sau 11 ngày liên tục trên đất nước ta đã không có ca nhiễm mới, 16/16 ca bệnh dương tính với vi rút corona đã hoàn toàn được xuất viện.

Đó là những thành tựu, những hy sinh to lớn trong lĩnh vực bảo vệ sức khỏe nhân dân không thể phủ nhận, mà những người thầy thuốc, những cán bộ y tế là những chiến binh hàng đầu trên mặt trận này.

Tuy nhiên, hiện nay do tác động của cơ chế thị trường, ở nơi này, nơi kia cũng còn có tình trạng tiêu cực trong công tác khám, chữa bệnh. Biểu hiện suy thoái đạo đức ở một bộ phận người làm trong ngành y như: Thái độ vô cảm, cửa quyền, vòi vĩnh… Tuy không là phổ biến, nhưng thực sự đã diễn ra. Biểu hiện căn bản là có trường hợp bỏ mặc không cấp cứu người bị nạn, chỉ vì họ chưa có người nhà đến đóng tiền; phân biệt đối xử giữa người đến khám chữa bệnh bằng thanh toán trực tiếp với người có thẻ bảo hiểm y tế; đối xử tận tình, chu đáo với người quen thân, người giàu có, còn với người nghèo khó, rách bẩn thì đại khái, qua loa. Thậm chí không chẩn đoán được rõ bệnh nhưng vẫn giữ bệnh nhân nặng để tăng thu nhập; đòi hỏi các thủ tục phi lý, không đúng quy định gây phiền nhiễu cho người bệnh. Tình trạng quá tải ở cơ sở điều trị, tạo nên nỗi khổ cho bệnh nhân; quảng cáo quá khả năng chữa bệnh v.v. Đang là những hạt sạn, làm xói mòn lòng tin của công chúng, làm xấu đi hình ảnh người thầy thuốc.

Hy vọng rằng, cùng với sự phát triển của văn minh xã hội, đội ngũ thầy thuốc của chúng ta sẽ không còn những hạt sạn kể trên, xứng đáng với danh hiệu “người thầy cao quý” mà xã hội đã tôn vinh.


                                                               Mạnh Nguyên